cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển VI HT THÍCH TRÍ QUẢNG


A. VĂN KINH

 

Bấy giờ ngài Vô Tận Ý quỳ gối chắp tay bạch với Phật rằng vì nhân duyên gì mà người thế gian gọi Bồ tát này là Quan Thế Âm, xin Đức Thế Tôn mở lòng chỉ giáo. Đức Phật liền bảo: "Này Vô Tận Ý, nên nghe cho kỹ công đức Quan Âm, nếu có chúng sanh chịu nhiều đau khổ muốn cầu ra khỏi thì niệm Quan Âm, nhờ sức bi tâm mà được giải thoát. Nếu gặp La sát, quỷ dữ hại người, hoặc gặp nạn Trời, nước trôi lửa cháy, quan lại hành hình, trói buộc gông cùm cùng là giặc cướp, giữ tâm sáng suốt chánh niệm Quan Âm, nhờ sức bi tâm mà được khỏi nạn.

Nếu người sân hận cùng với si mê bị mọi người chê là kẻ tham dục, nhờ đức trong sạch Bồ tát Quan Âm mới vừa phát tâm liền được thanh tịnh, sống trong thiền định trí huệ lại sanh, thấu rõ ngọn ngành, không còn sân hận. Nếu muốn hậu vận còn được lâu dài, cầu sanh con trai để mà nối dõi, chí thành đảnh lễ Bồ tát Quan Âm, nhờ đại bi tâm mà sanh nam tử đức tài đầy đủ, đáng bậc anh hùng. Nếu phận má hồng muốn cầu con gái, chí thành lễ bái Bồ tát Quan Âm thì cũng được sanh hằng nga tiên nữ, sắc tài đầy đủ, đức hạnh vô song. Vì thế các ông phải nên cung kính tịnh Thánh Quan Âm, dù chỉ nhất tâm cũng được vô biên công đức, bằng người tích cực suốt cả cuộc đời quyết chí tôn thờ sáu mươi hai ức hằng sa Bồ tát để cầu phước lạc trên các cõi Trời.

Phật vừa dứt lời, ngài Vô Tận Ý lại nghĩ thêm rằng Bồ tát Từ Hàng vào trong thế gian bằng phương tiện nào mà tạo công đức cho người tích cực tu hạnh Quan Âm vượt mọi khó khăn mà lên bờ giác.

Đức Phật đã biết việc của Quan Âm, người ở thế gian không thể hiểu được, nên Ngài mới lược dạy Vô Tận Ý về những thần bí của Đức Quan Âm.

Nếu dùng ngữ ngôn làm sao nói được con người siêu việt xuất hiện trên đời, làm việc tùy thời, tùy tâm niệm chúng, thị hiện tương ứng để cứu hộ người, sử dụng thuyền Từ ở trong biển khổ, hóa độ tùy duyên.

Nếu gặp chúng sanh là bậc đại nhân, ngài hiện Phật thân thuyết pháp lợi sanh vượt hơn tất cả, từ bi hỷ xả, độ chúng hằng sa.

Nếu người lánh xa những nơi ồn náo, vào ẩn rừng sâu để cầu Phật trí, ngài hành pháp thí khai thị cho người bằng trí tuyệt vời trên đời ít có, do đó được danh là Bích chi Phật.

Nếu người chấp vật lại thích từ chương, đi khắp mười phương tìm thầy học đạo, không hết phiền não, nghiệp chướng lại tăng, ngài hiện Thanh văn tu Tứ Thánh đế làm họ kính nể theo học đạo Thiền, tâm tánh được yên mà lên bờ giác.

Nếu cầu phước lạc trên cõi Thiên đàng thì ngài sẵn sàng làm Trời Đế Thích. Nếu sợ kẻ địch giết hại mạng người, ngài làm tướng Trời, tay cầm bảo sử, diệt dữ trừ tà.

Nếu vào Ta bà, ngài làm cư sĩ, thể hiện chân lý trên cõi thế gian. Có lúc làm Tăng hay làm Phạm Chí, túc trí đa mưu, giúp việc tối ưu được phong Tể tướng, mặc dầu sung sướng Bồ tát chẳng màng, rũ áo từ quan tìm đường giải thoát. Ở trường hợp khác, ngài hiện Tiểu vương giữ vững biên cương, nhân dân an lạc, nói đạo giải thoát, dạy chúng tu Thiền, đất nước bình yên thì ngài thoái vị.

Biết bao xiết kể công đức của ngài, đủ ba mươi hai thân hình biến hóa cứu độ tất cả người niệm danh ngài từ xưa đến nay không bao giờ dứt. Ta nay thành thật khuyên bảo mọi người kính trọng tôn thờ Bồ tát Quan Âm ở trong nội tâm đừng nên xao lãng, khi có gặp nạn thì niệm danh ngài, tất cả họa tai theo đây tan mất, mười phương chư Phật cũng nói như thế.

Bấy giờ ngài Vô Tận Ý lại nghĩ thêm rằng Ta nên cúng dường Đức Quán Tự Tại chuỗi ngọc như ý lợi ích trời người. Quan Âm mỉm cười mà không chịu nhận. Phật giải tường tận về pháp cúng dường, rồi bảo Từ Hàng thương xót chúng Tăng và Vô Tận Ý nhận ngọc pháp thí lợi ích cho đời.

Phật vừa dứt lời, mọi người hoan hỷ thành tựu pháp thí của Đức Quan Âm. Ngài dùng bi tâm phân hai chuỗi ngọc, một cúng cho Phật ở cõi phương xa, một dâng Thích Ca Ta bà giáo chủ, như vậy đã đủ tịnh uế hai phần, đại chúng ân cần đầu thành đảnh lễ, cúng dường như thế công đức không lường.

Bấy giờ ở trong hội trường có ngài Trì Địa tu hạnh bố thí và sửa cầu đường, được Phật ngợi khen công phu đệ nhất, nghe pháp chân thật, lòng rất vui mừng cùng với tám muôn bốn ngàn chúng sanh, đồng phát đại tâm cầu thành Phật đạo.

 

B. GIẢI THÍCH

 

Trong phần cuối kinh Pháp Hoa có năm vị đại Bồ tát là Dược Vương, Diệu Âm, Hoa Đức, Quan Âm và Phổ Hiền. Bổn môn Pháp Hoa kinh chọn hai vị Bồ tát tiêu biểu là Quan Âm và Phổ Hiền. Tuy không nhắc đến các vị Bồ tát kia, nhưng phải ngầm hiểu rằng trước khi đạt đến khả năng siêu tuyệt của Bồ tát Quan Âm, hành giả phải thành tựu các pháp tu của Bồ tát Dược Vương, Diệu Âm và Hoa Đức.

Các vị đại Bồ tát đầy đủ phước đức trí tuệ, mới có khả năng cứu nhân độ thế. Về phần chúng ta tập sự tu Bồ tát đạo, còn đang rèn luyện đạo đức, tri thức, chưa đủ năng lực độ sanh như các ngài; cho nên cần phải kết làm quyến thuộc với các vị Bồ tát lớn, để nương công đức của các ngài mà phát triển tự thân.

Dược Vương Bồ tát chứng Giải nhất thiết chúng sanh ngữ ngôn Đà la ni, tức hiểu rõ chúng sanh nghĩ gì, muốn gì, có khả năng nào, từ đó nâng đỡ họ phát triển tài đức dễ dàng. Thành tựu tam muội ấy, Dược Vương Bồ tát được xưng tán là Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát, ai nhìn thấy cũng an vui, phát tâm và muốn mời thỉnh. Đức Phật lại đưa tiếp mô hình Diệu Âm Bồ tát đến Ta bà bằng tâm trong sạch, hoàn toàn vì người, tiêu biểu bằng tám mươi bốn ngàn hoa sen báu, rồi lặng lẽ trở về thế giới Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí. Xuất hiện cho người phát tâm và ra đi để người khát ngưỡng tu hành, đó là cách hành đạo của Diệu Âm Bồ tát.

Trở về thế giới hiện thực, Đức Phật giới thiệu Bồ tát Quan Âm. Muốn hiểu và thấy ngài, chúng ta phải nhìn thẳng vào xã hội. Quan Âm hiện hữu giữa lòng cuộc đời này, không cần tìm kiếm ở đâu khác.

Trong phẩm Phổ Môn thứ 25, Đức Phật nói về công hạnh siêu tuyệt của Đức Quan Âm mà chỉ có Phật mới biết trọn vẹn. Quả đức ấy của Bồ tát Quan Âm phát xuất từ nhân địa tu hành Bát nhã, quán sát cùng tột thật tướng các pháp, thấy được ngũ uẩn dưới dạng "Không”, cho nên kết hợp được hai mặt vật chất và năng lượng một cách tự tại, gọi là Ma ha Bát Nhã. Đó là trí tuệ bậc nhất, biết tất cả pháp không chướng ngại, nên ngài còn có tôn xưng là Quán Tự Tại Bồ tát. Từ đại trí tuệ Bát nhã, phát đại từ bi tâm, trở về ngọn nguồn tâm thức, lưu xuất Đà la ni, tức mật ngữ hay thần chú Đại Bi. Tuy không hiểu mật ngữ, nhưng qua công phu hành trì, chúng ta nhận được sự linh nghiệm của thần chú Đại Bi.

Từ Bát nhã và tâm đại bi kết hợp thành hiện thân Quan Âm có khả năng độ sanh rộng tới mức là "Thiên xứ hữu cầu thiên xứ ứng”, tức đồng một lúc có một ngàn nơi cầu cứu, thì ngài đều hiện thân cứu thoát đủ, không phải hiện hữu giới hạn một chỗ. Thu hẹp lại, ngài giáo hóa dưới ba mươi hai dạng, hay một thân mà hành đạo liên hệ với ba mươi hai dạng hình khác nhau. Tùy theo yêu cầu, ngài xuất hiện từ thân Như Lai, Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn, nói chung là từ Thánh nhân cho đến thân chư Thiên là Phạm Vương, Đế Thích. Ở trần thế, ngài hiện thân Chuyển luân Thánh vương, thân tiểu vương, kế là thân tể quan, cư sĩ, trưởng giả, tức ba lớp người thuộc thượng tầng xã hội, nói theo ngày nay là lãnh đạo cao cấp như Thủ tướng, Bộ trưởng, người trí thức, người giàu có. Thậm chí ngài còn hiện thân phụ nữ, trẻ con, quỷ thần, v.v…, tổng cộng là ba mươi ba thân (gồm một thân chính và ba mươi hai ứng hiện thân).

Đức Phật cho biết không thể nào nói hết sự biến hóa thần thông của Bồ tát Quan Âm, vì thật ra ngài là một vị cổ Phật với tôn danh là Chánh Pháp Minh Như Lai, vì thương nhân gian mà ngài thị hiện cứu độ chúng sanh. Vì vậy, trên tượng Quan Âm thường có Đức Phật Thích Ca trên trán, thể hiện ý nghĩa dù hiện hữu chung sống với các loại hình, nhưng Phật huệ của Quan Âm vẫn không thay đổi. Điều này gợi nhắc chúng ta khi hành đạo, hòa với người là điều tất yếu, nhưng đừng đánh mất vị Phật trong ta. Trên đường tu tạo công đức, chúng ta quét dọn, rửa cầu, trồng trọt…, nhưng xong việc rồi, không kể nữa. Không phải lao động để trở thành người lao động. Làm tất cả, mà ta vẫn là ta, dù hoàn cảnh khó khăn nào, chúng ta cũng dùng Phật huệ hóa giải; đừng để khó khăn nhận chìm.

Để giáo hóa người, Quan Âm hiện hình tương ưng thế gian, đồng cảnh ngộ với họ. Vì vậy, gặp người dữ hay cô hồn, Quan Âm không thể là người mẹ hiền lành; ngài phải làm Tiêu Diện Đại sĩ với mắt xếch ngược và nhe nanh vuốt đáng sợ, sẵn sàng nuốt chửng cô hồn.

Trường hợp khác, Quan Âm hiện thân Thị Kính, một người đàn bà bất hạnh như bao người phụ nữ khác ở thế gian. Tuy nhiên, không bao giờ oán hận, chỉ lo tu hành cho tiêu tan nghiệp ác và cuối cùng đắc đạo, Thiện Tài cũng bay theo. Quan Âm đã vẽ ra hướng đi cho những người nữ muốn chuyển khổ đau thành hạnh phúc và như pháp tu hành, thì tất cả sự hàm oan sẽ chắp cánh cho họ thăng hoa.

Hoặc có trường hợp, ngài làm vua nước nhỏ (tiểu vương) phải đương đầu với nước lớn mạnh tham tàn, một khó khăn nhất của người lãnh đạo. Quan Âm cũng hiện thân loại hình này, khéo léo điều động nhỏ để thắng lớn. Thông thường, nước nhỏ phải sợ sệt, triều cống nước lớn mà chưa yên thân. Ở đây, đặc biệt tiểu vương chỉ nói đạo giải thoát, dạy chúng tu Thiền mà giữ vững biên cương. Nói cách khác, làm cho đại chúng thanh tịnh, trí sáng suốt. Trí khôn và tâm định tĩnh không thể bị đánh cướp được, nhưng làm đối phương phải nể sợ. Thực tế cho thấy ý này, trong lịch sử nước ta còn ghi lại công lao to lớn của vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, những vị vua nổi tiếng tu Thiền, nhưng đã dẹp tan quân Mông Nguyên mạnh gấp trăm lần ta.

Có lúc Bồ tát hiện Tể quan, cụ thể như Khuông Việt Thái sư, giúp vua điều hành việc nước tốt đẹp.

Đất nước bình yên, thì vua thoái vị; hoặc giúp vua ổn định việc nước xong, thì rũ áo từ quan, thể hiện tinh thần vị tha vô ngã hoàn toàn, nên sống trong cảnh phú quý lợi danh tột đỉnh mà chẳng hề sanh tâm tham đắm, vì thấu rõ danh lợi ràng buộc ta ở mãi trong sanh tử, chẳng bao giờ trở lại thế giới Phật được. Nhìn vào cách hành xử thánh thiện ấy mà biết được vua, quan này là Quan Âm Bồ tát hiện thân, còn vua quan của thế gian thì bám chặt địa vị, ưa thích hưởng thụ, cho đến cái chết kề bên vẫn không buông bỏ.

Riêng tôi, trên bước đường tu, đã từng gặp người rất ác, nhưng không giết, không đánh, không nhục mạ, mà lại dễ dàng tha mạng cho tôi. Tôi cảm nghĩ Bồ tát Quan Âm đã tác động, khiến họ phải đối xử tốt với tôi. Nói chung, bất cứ ai có lòng tốt giúp đỡ tôi vượt qua hiểm nguy, hoạn nạn, tôi tin đó là lực gia bị của Quan Âm sai khiến họ đến cứu tôi.

Hoặc như cha tôi thoát chết cũng nhờ Quan Âm. Khi bị lính Pháp bắt, lấy búa đập lên đầu, ông liền niệm Quan Âm và nghe tiếng búa đập mà không có cảm giác đau. Sau đó, chúng nhốt ông vào khám, chờ sáng hôm sau đem bắn, nhưng đến khuya, tên lính này đi hành quân bị mìn nổ chết.

Trong kinh cũng ghi sự tác động mầu nhiệm của Quan Âm trong thất nạn, nhị cầu. Ai thọ những tai nạn như nước cuốn trôi, lửa cháy, quỷ hại, bị đánh đập, bị sát hại, gông cùm xiềng xích, nạn cướp, mà hết lòng niệm Quan Âm, thì Ngài cứu. Theo tôi, điều này không đơn giản, không thể hiểu bình thường. Ở dạng vô hình, hiểu theo chiều sâu căn lành, chúng ta gieo trồng chỗ nào, sẽ được nơi đó cứu thoát bằng mọi cách. Tuy nhiên, không phải ai cũng được cứu, vì nghiệp lực của mỗi người khác nhau và mối quan hệ của từng người đối với cuộc đời, đối với thế giới siêu hình không ai giống nhau. Tuy lòng từ của Bồ tát chan hòa tất cả, nhưng ta và Bồ tát có sự quan hệ tương ưng thì mới cứu được. Nếu nghiệp thức của ta liên hệ với tà ma quỷ thần, thì nó cũng xúi giục ta làm ác.

Khi chúng ta chí thành chánh niệm Quan Âm đến mức vô tâm, đạt đến siêu thức, ngang với hạnh nguyện của ngài, mới nhận được lực gia bị kỳ diệu, làm thay đổi người ác thành người thiện, hoàn cảnh xấu trở thành tốt. Trái lại, vừa niệm vừa run, hoặc niệm trong hữu ý, còn suy nghĩ, hiểu biết được, thì không thể nào tiếp nhận được gia trì lực của Quan Âm.

Tóm lại, bước theo hạnh nguyện của Bồ tát Quan Âm, chúng ta tùy duyên hành đạo, tùy theo yêu cầu của từng nơi, từng lúc, mang an vui, lợi ích cho người mà tâm vẫn nhẹ nhàng, thanh tịnh. Đồng hạnh, đồng nguyện với Quan Âm như vậy, làm bạn lữ với các Bồ tát bất thoái chuyển và ra vào tam giới tự tại. Ước nguyện ấy hằng ấp ủ trong tâm niệm của từng hành giả Pháp Hoa vậy.