cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển V - Kinh Đại Bảo Tích - Tập 2HT. Thích Trí Quảng


Thắng Man là con gái của vua Ba Tư Nặc, lấy chồng là vua ở nước lân cận Xá Vệ, trở thành hoàng hậu. Tâm tánh của bà rấthiền hậu và lại có khả năng thuyết phục người. Đây là điểm đặc biệt mà chúng ta cần suy nghĩ để học. Trong triều, từ trên xuống dưới, kể cả quốc vương đại thần, không ai có ý trái lại hoàng hậu Thắng Man. Người nữ mà khiến cho chồng và mọi người nể phục, không phải là việc đơn giản.

Việc chính yếu của Thắng Man là đạt cho được Nhứt thiết trí; nói theo ngày nay là nắm bắt được chân lý. Thiết nghĩ hướng tu hành của chúng ta ngày nay cũng vậy, làm thếnào thấy sự vậtchính xác hoàn toàn, thì mới có thể điều động người.

Muốn làm được như vậy, phải cắt bỏ chấp ngã và ngã sở. Vì còn chấp ngã và ngã sở thì không thể nhìn sự vật khách quan, nhất định phạm sai lầm, phải thọ quả báo. Có thể nói khi tu, cái mà chúng ta khó bỏ nhất là ý niệm về tôn giáo của ta, ta là Phật tử, ta là người tu theo Phật giáo. Ta có lập trường riêng như vậy, thì các tôn giáo kháccũng có lập trường của họ. Và khi đã có lập trường riêng, thấy sự việc không thể khách quan; điều gì của Phật giáo, chúng ta luôn binh vực, của đạo khác dù đúng, chúng ta cũng cắt xén bớt. Như vậy là trái với cốt lõicủa đạo Phật dạy phải thấy đúng sự thật. Chúng ta tu phải xóa bỏ sai phạm này càng sớm càng tốt.

Muốn tu tập pháp này, phải bỏ sở hữu của chúng ta trước, bỏ sở hữu vật chất và kế là sở hữu tinh thần. Bỏ và xem có bị mất mát gì hay không. Cỡ như các Thầy cô mà bỏ thì coi chừng giống như qua sông, chưa biết bơi mà bỏ thuyền bè là chết. Riêng tôi đang tập bỏ và thử bỏ. Không cần vật chất, không cần quản lý, không nghĩ tới quyền lợi; tôi chỉ lo truyền bá chánh pháp, nhưng đến đâu cũng có cơm ăn, chỗ ở. Phải xét lại vị trí của mình đến mức nào mới có thể bỏ; bỏ mà không mất mới nên bỏ. Đạt đến quả vị Phật, bỏ tất cả, nhưng được tất cả. Bồ tát thì bỏ được một phần, có một phần công đức. Vì vậy, Bồ tát hành đạo theo nhân duyên, công đức sẵn có mà thôi; vượt ngoài mức giới hạn này không thể được. Khi sang Nhật, tôi thử đến ở nhà thờ xem người khác tôn giáo đối xử ra sao. Quả thật họ cũng dọn phòng cho tôi ở và đãi thức ăn chay đàng hoàng như ở chùa.

Bắt đầu chúng ta tập xả một phần, bằng cách ta lo cho Tăng Ni, lo cho Phật pháp, thì Tăng Ni, tự viện, Phật pháp bấy giờ trởthành mạng sống của ta. Các Thầy cô đừng nên nghĩ chùa là của riêng mình, vì chỉ một ý niệm như vậy cũng không nên. Dứt khoát rằng chùa là của tứ chúng hay thập phương đàn na tín thí. Nếu ta buôn bán, sang nhượng chùa thì phạm tội không tha thứ được và món nợ này cũng không thể nào trả cho nổi. Ta nợ một người còn có thể trả được, sanh làm trâu ngựa cũng trả được. Nhưng sang đoạt chùa là tài sản chung của thập phương bá tánh, quá nhiều người, không thể trả hết; thậm chí có người chỉ hùn một đồng xây chùa, họ cũng đã có phần công đức trong đó.

Là đệ tử Phật, đứng ở lập trường chánh pháp, chúng ta hiến thân cho đạo, hết lòng vì đạo, tiến thân trong đạo. Bản thân tôi không có gì, được tu học ở Phật học đường Nam Việt; sau đó trên bước đường hành đạo, đếnđâu tôi bồi đắp cho đạo, tự đặt mình là một phần sở hữu của Giáo hội, của Tam bảo. Vìvậy, tất cả việc làm của tôi là do Giáo hội đề cử, gọi là Tăng sai. Chư Tăng phân bổ làm gì, ta hết lòng làm, công đức mới sanh. Bắt đầu ta làm được công đức trong một vùng, từ từ tiến lên làm cho cả thành phố và cả nước.Công đức chúng ta cứ như vậy mở rộng. Vàkhi tâm lượng vì đạo, vì chúng sanh trong Pháp giới thì tất cả Pháp giới đều trở thành sở hữu của chúngta.

Trong pháp hội này, có hoàng hậu Thắng Man nhận được bức thư của mẹ nói về Đức Phật. Bà liền nghĩ ngay đến Phật và liền thấy Phật xuất hiện trong hư không. Và từ chỗ Phật ngự, bà phát tâm ca ngợi Phật đức. Sau đó, Phật thọ ký cho bà đời đời kiếp kiếp thường qua lại chốn nhơn thiên, luôn được tự tại và thành Phật hiệu là Phổ Quang.

Tại sao bà là cư sĩ chỉ nghĩ đến Phật và phát tâm thì Phật đến và được Ngài thọ ký đời đời kiếp kiếp không đọa ba đường ác và thành Phật. Chúng ta thấy việc tu hành của Thắng Man quá đơn giản lại được kết quả lớn lao như vậy. Trong khi chúng ta xuất gia học đạo, ép mình trong khuôn khổ hàng chục năm mà còn không được gì. Phật dạy dễ,nhưng sao chúng ta tu lâu mà vẫn không có kết quả. Chúng ta nên xét lại việc tu hànhcủa mình đúng hay sai. Nếu không được kết quả giống Phật nói, chắc chắn chúng ta tusai, vì Phật không sai.

Chúng ta sai ở điểm nào. Theo tôi, chúng ta sai vì không thấy mình, không hiểu mình, thì làm sao thấy Phật. Không thấy Phật thì không tu trong chánh pháp được, nên rớt sang tà đạo.

Thắng Man thưa với Phật rằng quan trọng nhất là nhiếp thọ chánh pháp; nói theo kinh Pháp Hoa là đúng như pháp tu hành và giữ được chánh pháp thì phải đạt được kết quả như Phật dạy. Chánh pháp theo kinh này nêu lên một số việc đơn giản như giữ gìn giới luật. Đương nhiên, trên bước đường tu của chúng ta phải nghiêm trì giới luật; vì giới luật là thọ mạng của Phật pháp, giới luật còn thì Phật pháp còn. Vì vậy, nếu chúng ta sống theo giới luật thì dù Đức Phật nhập diệt cũng coi như Ngài còn tại thế.

Tuy nhiên, giữ giới khác với chấp giới. Người giữ giới làm cho giới trở thành hạnh và do hạnh tạo thành đức. Giữ giới ở dạng này là tu để trở thành người đức hạnh. Thành tựu được giới đức như vậy thì từng bước thăng hoa; trước tiên là được thân giải thoát và tâm giải thoát. Người tu mà không hiện được tướng giải thoát, không có tâm hồn phóng khoáng, coi như đọa.

Nhờ nhiếp thọ chánh pháp, có được tâm hồn phóng khoáng. Tâm phóng khoáng, nếu nói cho gọn là bốn đức tánh từ, bi, hỷ, xả. Thắng Man nói rằng bà đổi bốn đức tánh này thành mười hạnh nguyện để tu.

Thứ nhất là bà phát nguyện giữ gìn cấm giới hay sống theo mẫu mực của người có hạnh đức. Do hành động và việc làm lâu ngày của bà trở thành đức khiến cho người phát tâm. Trên bước đường tu, lúc còn nhỏ, chúng ta dùng hạnh trang nghiêm thân tâm, lớn thì dùng đức trang nghiêm. Hạnh và đức là giới của Đại thừa, tức làm gương tốt cho đời, làm lợi ích cho đạo. Từ khi xuất gia học đạo cho đến nhắm mắt lìa đời, thử kiểm xem ta đã làm được gì cho đạo hay không. Làm được việc cho đạo, cho chúng, mới có công với đạo, có đức với chúng. Công đức viên mãn mới không uổng phí cuộc đời tu. Trong Phật pháp, ta là con nợ; trong xã hội, ta là người ăn bám, chắc chắn không phải là đệ tử Phật.

Khi chúng ta thọ giới Sa di, Tỳ kheo, Thức xoa, Tỳ kheo ni, cũng chỉ giữ những giới này cho đến cuối đời. Mạng sống xả bỏ rồi thì các giới biệt giải thoát này cũng không còn, vì nó chỉ có tính cách giai đoạn. Có thể nói việc thọ giới biệt giải thoát của hàng Thanh văn để tạo điều kiện cho chúng ta tu trong khuôn mẫu cố định. Khi chúng ta chết thì khuôn phép này cũng chấm dứt, không mang theo đời sau được.

Nhưng giới Bồ tát đã thọ lãnh ở kiếp này rồi, vẫn mang theo qua kiếp sau và chúng ta cũng tiếp tục giữ cho đến khi thành Phật.

Đối với giới Tỳ kheo, Tỳ kheo ni…, khi phát tâm thọ thì có giới, nhưng thoái tâm là xả giới; nghĩa là có thọ, có giữ, có xả. Trái lại, Bồ tát giới thành tựu do phát Bồ đề tâm, nên không có thọ cũng không có xả. Khi chúng ta phát tâm Bồ đề thì đầy đủ giới đức. Nếu thoái tâm thì giới vẫn còn nguyên, nhưng không có tác dụng, nên không trở thành hạnh đức. Tuy nhiên, đời sau gặp duyên khai ngộ, ta phát tâm Bồ đề lại thì giới thể tự thanh tịnh.

Điển hình là trường hợp hoàng hậu Thắng Man chẳng những phát tâm Bồ đề trong hiện tại mà đã phát tâm, hành Bồ tát đạo ở nhiều ức Phật quá khứ. Vì vậy, kiếp này bà lập gia đình bình thường, nhưng giới bên trong đã có; nên chỉ nghe nhắc đến tên Phật, thì tự sâu kín đáy lòng của bà đã khởi lên ý niệm tu theo Phật. Nếu không có hạt nhân lành này, dù có gặp Phật cũng không tu hay tu cũng không kết quả, hoặc thấy người tu, mình kết duyên kính tin là cũng nhiều rồi.

Giới Bồ tát không phải do giới sư truyền trao. Bồ tát Văn Thù, Di Lặc và Đức Phật Thích Ca mới là người truyền trao giới Bồ tát. Văn Thù khai ngộ thì huệ chúng ta mở, nhìn đời chính xác, Di Lặc nhận làm giáo thọ sư thì lòng ta được an lành. Từ đó, người phát tâm Bồ đề thọ giới xong, nhìn đời sáng và tâm hồn thanh thản; không phải thọ giới rồi bị ràng buộc, khổ sở. Đối với việc thế gian, ta không còn thắc mắc buồn phiền vì thấy rõ; nghĩa là nương được trí Văn Thù và được Di Lặc dạy, tâm chúng ta bình ổn hoàn toàn. Được như vậy, Đức Thích Ca sẽ truyền trao chánh pháp và ta mới trở thành Bồ tát là đệ tử của Phật Thích Ca.

Phật Thích Ca cho biết Thắng Man nhiều đời đã phát Bồ đề tâm, hành Bồ tát đạo, nên bà thường luân chuyển trong sáu nẻo luân hồi. Nhờ vậy, đời đời kiếp kiếp bà luôn được thắng duyên là thông minh, khỏe mạnh, có hảo tướng… Xét ở khía cạnh nào cũng thấy Thắng Man hoàn hảo, vì đã trang nghiêm thân tâm bằng công đức do hành Bồ tát đạo, làm lợi ích cho người. Có công đức như vậy, bà tái sanh làm công chúa và sau lại làm hoàng hậu. Phước đức trang nghiêm thân tâm của Thắng Man quá đầy đủ, nên chỉ đọc bức thư của người mẹ nói về Phật, bà đã hình dung ra Phật và phát Bồ đề tâm.

Riêng bản thân của mỗi người trong chúng ta, nếu xuất gia mà chưa phát Bồ đề tâm, chưa được trí Văn Thù khai ngộ, chưa được Di Lặc giáo dưỡng, chúng ta còn đủ tham sân phiền não. Chúng ta phải cố gắng giữ gìn giới luật trong khuôn khổ của hàng Thanh văn, vượt qua hàng rào an toàn này, sẽ bịđọa.

Thắng Man nhờ giữ giới, tạo thànhcông đức, nên phát nguyện thứ nhất của bà đối trước Phật là đời đời kiếp kiếp nghiêm trì giới luật. Hạnh nguyện thứ hai của Thắng Man là luôn luôn kính trọng các bậc sư trưởng.

Tôi thấy các Thầy cô trẻ thường phạm sai lầm là thiếu kính trọng các bậc tôntrưởng. Tuy giỏi, nhưng mất đức khiêm cung cũng không làm được Phật sự. Tự thấy mình học có bằng cấp, còn Thầy tổ không có gì, là đọa. Phải biết rằng các bậc tôn trưởng ở thế hệ khác, nên họ học khác, hiểu khác chúng ta và họ thành tựu được những Phật sự tương ưng ở thời đó là giỏi rồi. Chúng ta ở thế hệkhác, làm được việc khác.

Tôi kính trọng Hòa thượng Huê Nghiêm tuy ngài không học nhiều, hoặc Hòa thượng Thiện Hoa, Hòa thượng Trí Tịnh là các vị thân giáo sư mà tôi theo học. Tuy nhiên, tôi làm đạo khác với các ngài để thích hợp với cuộc sống ở thời đại mới. Tôi vẫn tôn kínhcác ngài dù tôi có hiểu biết khác. Ở thời kỳ Thầy Tổ của chúng ta thì theo lối học từ chương, lúc đó giảng kinh từng chữ, từng câu là giỏi lắm. Học một bộ kinh phải mất mười năm, naychúng ta học một năm. Tôi thường phân bộ kinh làm ba phần để giảng giải. Trước nhất giảng lịch sử của kinh và tư tưởng kinh. Phần thứ hai là giảng nội dung hay cốt lõi của kinh. Và phần ba, nếu cần, tôi trích giảng vài đoạn kinh hay. Còn dạy theo kiểu xưa thì học cùng kiếp cũng không hết.

Thử nghĩ Thầy Tổ của chúng ta không giỏi hơn ta thì làm sao các ngài đào tạo chúng ta nên người. Ta dạy lớp người sau cũng phải un đúc cho họ thành tài, không đưa họ vào lối mòn cũ. Kính trọng tuyệt đối các bậc bề trên đi trước, không bao giờ được xúc phạm. Họ đã an vị trên bàn thờ là đã hoàn tất sứ mệnh đối với Phật pháp. Còn ta lo việc của ta cho tròn.

Nguyện thứ ba của Thắng Man là tha thứ cho người dưới cố ý hay vô tình xúc phạm bà. Muốn làm người lớn, phải biết tha thứ người dưới. Nếu không tha thứ thì ta ngang hàng với họ hay chống phá lại họ thì ta còn thấp hơn họ. Không kính người trên, không rộng lượng với người dưới, không hành Bồ tát đạo được.

Đối với người giỏi hơn, người có hạnh tốt, phải phát tâm tùy hỷ với họ là nguyện thứ tư của Thắng Man. Trong cuộc sống, chúng ta từng thấy những người không có hạnh tùy hỷ với người giỏi hơn và triệt tiêu họ; tấtnhiên tạo thành thế chống đối, việc làm càng trở nên khó khăn hơn. Không tôn trọng người tài, chắc chắn không thể có người giỏi hợp tác với ta.

Kính trên, nhường dưới, tôn trọng người hiền tài, nghiêm trì giới đức là bốn đức tánh mà Thắng Man phát nguyện thể hiện trong cuộc sống. Thành tựu bốn hạnh căn bản này, thì tùy duyên làm lợi ích chúng sanh là nguyện thứ năm của bà.

Thực tế cuộc sống cho thấy có người được những tánh tốt vừa nói, nhưng lại vấp phải sai lầm là keo kiết bỏn xẻn. Trên bước đường tu, ai làm thủ kho coi chừng phạm lỗi này, cái gì cũng tiếc, muốn giữ. Chúng ta làm công việc quản lý, lãnh đạo phải biết những gì cần xả cho người, có giữ là giữ gìn của Tam bảo và dùng cho đúng chỗ. Dùng không đúng chỗ, đúng người, cũng tội. Tôi ngại giữ tài sản chung của Phật pháp là lý do đó, của riêng mình thì dễ tùy tiện sử dụng.

Không keo kiết, đáng dùng thì dùng là tánh phải buông bỏ để tâm hồn nhẹ nhàng. Các vị nhận trách nhiệm quản lý thường chia trái tim mình ra mấy ngăn để gạo, đường,muối, v.v… Và không còn ngăn nào để Phật pháp là điều đáng sợ.

Vì vậy, Thắng Man bảo rằng cần giữ được chánh pháp, thấy chánh pháp và tùy duyên hành đạo. Đừng chất chứa đầy tim óc chúng ta, vì mang nặng nhiều dữ kiện, nó sẽ che mờ Như Lai tạng tâm của chúng ta. Làm quản lý tính toán kỹ lưỡng là phải, nhưng coi chừng để gạo, đường, muối che mất Như Lai tạng tâm, làm cho huệ chúng ta không phát sanh được. Chẳng lẽ đời tu của chúng ta chỉ có gạo, mì! Phải khẳng định rằng đối với người tu, cần thì cái gì cũng nhớ. Nhưng không cần thì không gì dính vào tâm, nên được giải thoát và tùy duyên làm lợi ích cho người.

Nguyện thứ sáu là Thắng Man sử dụng tất cả của cải để cứu giúp các loài hữu tình.

Nguyện thứ bảy, Thắng Man tu Tứ Nhiếp pháp là bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự. Sử dụng bốn nhiếp này để không keo kiết bỏn xẻn. Việc làm của người tu là đồng sự nhiếp, tùy duyên giáo hóa, không có pháp cố định. Ở trong giới trí thức, nông dân, công nhân, v.v…, chúng ta đều là người tốt, giỏi. Nói chung, ở mọi lãnh vực, chúng ta tùy duyên làm. Sống ở nơi nào thì hài hòa với nơi đó. Người lãnh đạo luôn sống gần với mọi người, làm chung với họ để tạo sự cảm thông. Làm chung, nhưng ta giỏi hơn, tốt hơn, họ phải kính nể. Không làm được mà chỉ đạo thì khó.

Lợi hành là việc khó chúng ta cân nhắc có lợi cho đạo pháp, dân tộc, chúng ta sẵn sàng; không làm việc vô nghĩa. Mọi việc của chúng ta vì số đông, nên người kính mến ta; vì Phật pháp, nên ta có công với đạo. Hợp tác với người, hòa đồng với người, ta ở chùa nào thì chùa đó phát triển, ở tổ chức nào thì tổ chức đó mở rộng. Làm lợi cho đời, cho Giáo hội như vậy, ta trở thành biểu tượng cao quý.

Nhờ ta mà chùa phát triển, chúng có cơm ăn, lúc ấy ta dễ sanh tâm khinh thường người. Một số người làm được việc, nhưng mang tội này, là lấy tội xóa công; nên đóng góp hết sức mình mà bị người ghét. Ái ngữ của chúng ta cần thể hiện trong sự khiêm tốn, nên nói lời nhẹ nhàng, dễ nghe. Còn làm được việc rồi thì người khen, ta nở mũi và cuối cùng tự khen mình, chê người, thì biến công thành tội. Lúc nào cũng nên từ tốn khiêm cung là đức tánh của Bồ tát. Và pháp nhiếp cuối cùng là bố thí, ta sẵn sàng san sẻ cho người kiến thức, tài sản, sức khỏe để họ cùng thăng hoa với ta.

Nguyện thứ tám là làm nơi nương tựa cho người bất hạnh. Đây là hạnh mà chúng ta không làm nổi. Việc này của vua chúa làm. Có bao nhiêu người lang thang, rách rưới, bệnh hoạn, đói khổ, bà nguyện ban phát cho họ đầy đủ, sung sướng.

Thứ chín, Thắng Man phát nguyện không bỏ rơi bất cứ người ác khó nào. Tu hạnh Thanh văn, chọn người lành làm bạn. Nhưng tu Bồ tát đạo, những người phạm pháp hay tất cả thành phần tệ nạn xã hội là đối tượng giáo hóa của Bồ tát. Những người ác xấu này gây tang tóc cho biết bao người, nên cứu độ được họ, công đức của Bồ tát là vô lượng.

Và nguyện thứ mười, đời đời kiếp kiếp bà luôn thọ trì chánh pháp.

Hoàng hậu Thắng Man tu Đại thừa, dồn tất cả năng lực cho Nhứt thiết trí để thấy biết tất cả. Và đạt được Nhứt thiết trí, theo cái thấy đó mà làm. Bà mới có thêm ba đại nguyện để làm lợi ích cho vô biên chúng hữu tình.

Nguyện thứ nhất, biết được thật tướng các pháp.

Đã được chánh trí thì nguyện thứ hai là tùy duyên giáo hóa chúng sanh không mệt mỏi. Thực hiện hạnh tùy duyên để phiền não không phát sanh, hoàn cảnh như thế nào, bà cũng chấp nhận. Chúng ta theo dấu chân Phật cũng vậy, vì đời sống đơn giản, ta thanh thản, không có nhu cầu cho riêng mình. Sự hiện hữu của chúng ta để đáp ứng nhu cầu của quần chúng, của xã hội, của Giáo hội. Tùy duyên với Giáo hội thì công cử việcchúng ta theo đó làm. Không tùy duyên hay không theo Giáo hội, cử chúng ta đi vùng sâu, vùng xa, chúng ta thấy nguy hiểm, muốn ở thành phố để có quyền lợi. Vì tưởng ở thành phố tốt, sung sướng, nhưng sau cùng chúng ta lại tệ thêm, khổ hơn. Thật vậy, thực tế cho thấy các Thầy tốt nghiệp đi xa sợ cực khổ. Nhưng ở đây không có việc làm, không đóng góp được cho Giáo hội, tài năng bị mai một ; trong khi người dở hơn về địa phương có môi trường sống, phát triển được.

Nhớ lại thuở xưa, mới ra trường, Hòa thượng Thiện Hoa bảo tôi lên Bà Rá giảng kinh, thật thú vị. Ở thành phố giảng, lúc đó cỡ tôi thì không ai nghe. Lên xứ khỉ ho cò gáy, nhưng họ quý trọng mình, mang xe đạp rước về. Lúc đó, có xe đạp rước là sang lắm. Ấn tượng đó bây giờ vẫn còn sống động trong tâm trí tôi. Lên Bà Rá không có Thầy, thì mình nhỏ, chưa thọ Cụ túc giới, họ vẫn coi mình như Phật sống. Lúc đó, ở nơi đó làm gì có chùa cao Phật lớn, tối tôi ngủ trong cái chòi thờ Phật Di Đà bằng giấy vẽ. Họ trải mền cho tôi nằm và họ nằm xung quanh để canh giữ tôi, vì sợ ngoại đạo giết mình. Tình người thật là thắm thiết.

Bước theo con đường hoằng pháp lợi sanh, nơi nào cần, chúng ta sẵn lòng đến; vì Phật pháp, không vì ta, thể hiện tinh thần vị tha vô ngã. Sở học của chúng ta ở giai đoạn này không phải ở trường lớp, bài vở; nhưng học được từ việc làm. Càng làm việc giáo hóa độ sanh, trí khôn của chúng ta càng phát triển.

Thời gian học ở trường, tu Nhị thừa, đạt được Nhứt thiết trí và dấn thân hành Bồ tát đạo, công đức sanh ra, trí nhạy bén, sáng ra; có được hiểu biết là Đạo chủng trí. Đầy đủ công đức của Bồ tát hạnh thì tiến đến Nhứt thiết chủng trí của Như Lai.

Và nguyện thứ ba, vì đạo không tiếc thân mạng, miễn đạo còn mới quan trọng. Theo Thắng Man, xác thân này là cát bụi phù du, trước sau gì nó cũng phải hoại diệt. Vì vậy, nếu cần để xác thân chết, cho đạo còn sống mãi theo thời gian. Đó là niềm vinh hạnh lớn của bà, đã được đóng góp lớn cho đạo sống còn.

Người tu thường phát nguyện không tiếc thân mạng; đạo cần, chúng ta sẵn sàng hy sinh. Sống chết đều vì đạo. Không có tâm niệm này, không bao giờ nhập đạo được. Dù tu lâu cũng không phải đệ tử Phật, không thể đứng trong giáo pháp Phật. Người sống trong giáo pháp Phật thì không cần gì, nhưng không thiếu gì. Ở ngoài giáo pháp, ham muốn đủ thứ; nhưng được trước mất sau. Tôi thấy rõ người vì đạo thường dấn thân làm việc khi khó khăn, nhưng thành công ai hưởngcũng được. Người không vì đạo, khó thì không có họ; lúc thành tựu thì họ vỗ ngực xưng danh. Qua hai giai đoạn lịch sử, trước pháp nạn 1963 và trước 1975, Tăng Ni tràn ngập; sau đó, còn rất ít người ở lại với đạo. Ở lại được với đạo là người thấy đạo, vì đạo; họkhông có quyền lợi gì nhưng bằng lòng sống chết với đạo. Vì vậy, họ được Phật hộ niệm, được quần chúng quý mến.

Phát nguyện hiến thân cho đạo, chỗ nào đạo pháp cần thì tới, không sợ gian lao, không từ khó nhọc. Tôi nhận ra được ý này. Ở thành phố không đóng góp được công sức, chỉ hưởng thụ; hết phước thì bị đọa, khôngđược ở chùa, không mặc áo tu, bị người xem thường. Trái lại, tự nhớ nghĩ mình có công đức làm đệ tử Phật, ăn cơm của Phật, ở chùa nên hiến thân cho đạo; tùy duyên độ sanh, nơi nào làm được chúng ta sẵn lòng. Nếu sống cho qua ngày, hết phước thì muốn tu nữa cũng không được; vì sức khỏe không còn, điều kiện không có, bị bỏ ngoài lề Giáo hội, xã hội. Tôi thấy bạn đồng tu với mình đã bị như vậy.

Tóm lại, nhờ căn lành sâu dày với pháp Phật gieo trồng từ nhiều kiếp quá khứ, hoàng hậu Thắng Man đã phát tâm Bồ đề hành Bồ tát đạo với vô lượng Phật. Vì thế, đến pháp hội này, khi hoàng hậu đối trước Phật phát mười ba đại nguyện như trên thì liền có mưa hoa trời và âm thanh trời khen ngợi lời thệ nguyện của bà là chân thật. Và hoàng hậu được Đức Thích Ca thọ ký thành Phật hiệu là Phổ Quang.