cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển V - Kinh Đại Bảo Tích - Tập 2HT. Thích Trí Quảng


Đức Phật thuyết pháp tùy thời, tùy chỗ, tùy người. Thời của Đức Phật cách chúng ta đã hơn hai ngàn năm, những gì Ngài nói ở Ấn Độ thì tất yếu phù hợp với phong tục tập quán của dân Ấn và Ngài cũng dạy cho những tầng lớp xã hội khác nhau. Có thể nói Phật giáo được truyền bá sâu rộng và lâu dài là nhờ hàng chân tu thật học có uy tín, đạo đức và hiểu biết. Họ đã biết ứng dụng Phật pháp thích nghi với từng quốc độ và từng thời kỳ khác nhau.

Ngày nay chúng ta cũng vậy, pháp nào thích hợp thì dùng. Không thích hợp, chúng ta vẫn trân trọng để đó, không bác bỏ, vì có chỗ khác vẫn dùng được. Thí dụ như ở nước ta,khất thực không thích hợp. Trong khi giới luật quy định không khất thực thì không là Tỳ kheo, vì ba đời chư Phật đều khất thực. Như vậy, chúng ta phải hiểu khất thực thếnào để đến Vô thượng Bồ đề, còn chỉ coi đó là pháp xin ăn thì không thể được. Vì Đức Phật của chúng ta chẳng lẽ từ bỏ cuộc sống vua chúa để trở thành ăn mày hay sao. Phải hiểu ý nghĩa của pháp này và thực hiện thế nào cho được lợi lạc.

Phải ý thức rằng khi nào cần thì Phật chế ra giới luật. Ngài không chế sẵn khuôn để bắt chúng ta theo. Đối với Tỳ kheo có trí tuệ, Phật dạy rằng những gì Ngài chế đặt không còn thích hợp, thì nên họp Tăng chúng để quyết định. Một mình ta quyết định không được.Những gì thời Phật không có, đương nhiênkhông nói. Nhưng những gì của thời đạichúng ta phát sanh thì họp Tăng lại để giải quyết.

Chúng ta đều biết hơn ba trăm hội, Đức Phật thuyết pháp không giống nhau, thậm chí còn trái ngược. Phật nói đúng chỗ, đúng lúc, đúng người. Có những điều chỉ có giá trị đúng lúcđó. Thí dụ thầy A phạm sai lầm vào lúc đó, hoàn cảnh đó. Nhưng qua thời giankhác, tâm lý đã thay đổi, vì có sự hối hận, đã sửa đổi, trở thành tốt rồi. Nếu ta đem cái xấu phê phán là sai.

Thầy Tỳ kheo không thắc mắc, buồn phiền; nếu người nói không đúng thì bỏ qua. Tỳ kheo tầm thường bị nói oan thì bực bội, buồn phiền là nghiệp chướng Tăng. Nhưng người nói đúng, mà họ cũng tự bào chữa, sợ mất uy tín. Cả hai đều sai. Tỳ kheo phạm hạnh lóng nghe người phê phán. Người nói sai, mặc họ; mai kia họ phải đính chính. Nếu phê bình đúng thì họ là thiện tri thức nhắc nhở, xây dựng, để giúp ta trở thành người tốt. Đó là đệ tử Thanh văn của Phật có phạm tội vàbiết ăn năn, sửa đổi.

Pháp hội này nói về Sa môn và Tỳ kheo. Đời sống của Sa môn theo Phật dạy được phát xuất từ tinh thần hoàn toàn trái ngược với chủ trương của Bà la môn đã có trước khi Phật ra đời.

Không gia đình, không nhà cửa, không tiền bạc và chỉ ăn xin, đó là nếp sống của Sa môn đoàn theo Bà la môn giáo. Đức Phật muốn cứu Sa môn đoàn này, nên Ngài chỉnh lý việc tu hành sai lầm của họ. Họ sống xả ly chỉ vì bất mãn. Đức Phật chuyển đổi tâm lý bất mãn, chán đời của họ trở thành tâm hồn giải thoát, tự tại. Ngài sửa đổi cuộc sống ăn xin thụ động, vô nghĩa của họ trở thành nếp sống khất thực cao quý để độ sanh.

Đức Phật mở ra cánh cửa để họ thấy hàng Sa môn từ bỏ việc ăn, mặc, ở theo thế gian và sống tri túc, mặc đơn giản, ngủ dưới gốc cây, người cúng cho thức ăn gì thì dùngthức ăn đó. Sống giản dị như vậy để thân tâm được nhẹ nhàng, có nhiều thì giờ tu học. Theo Phật, Sa môn từ chối quyền lợi thế gian, nhưng phải đạt được kết quả xuất thế gian là tri thức và đạo đức vượt trội hơn người đời. Đó là mục tiêu của Đức Phật nhằm hoàn thiện tư chất của Sa môn, không phải từ bỏ tất cả để không được gì. Hoặc còn kẹt ba việcăn, mặc, ở và không thăng hoa đạo đức, tri thức mà khất thực thì trở thành ăn mày thật.

Sa môn học pháp giảithoát, tam vô lậu học, giới, định tuệ để trở thành Hiền Thánh. Học giới nhằm nâng Sa môn thành người đức hạnh. Giới không dùng để ràng buộc, nhưng để ngăn chặn việc xấu ác, giúp Sa môn phát huy mặt tốt, gọi là giới đức, vì từ việc giữ giới mà chuyển đổi thành đức, thànhhạnh.

Định là làm cho tâm hồn bình ổn. Muốn được như vậy, đừng kẹt ăn, mặc, ở, không hơn thua tranh chấp. Có Định mới giải thoát. Tâm hồn thanh thản, không bận việc thế gian; lúc ấy tập trung vào vấn đề gì sẽ thấy rõ việc chính xác và giải quyết đúng đắn. Kinh nghiệm tôi thuở còn đi học, nhờ sức tập trung cao, nên học rất nhanh và nhớ dai. Chỉ batháng là tôi đủ sức thi đậu vào Đại học ở Nhật. Trong khi các sinh viên khác vừa họcvừa chơi, nên họ bị phân tâm, nhớ đủ thứ chuyện thì làm sao nhớ được chữ nghĩa.

Tập trung tư tưởng để nhớ cái cần nhớ, không cho tâm trí duyên vào việc trần thế là Định và từ đó phát sanh trí tuệ. Sa môn là đệ tử Phật khác với Sa môn lang thang ở điểm họ có sức tập trung cao, có đạo đức và hiểu biết rộng. Họ sẵn sàng nhường quyền lợi thế gian, chỉ lo phát huy đạo đức và tri thức.

Trong Sa môn đoàn, Đức Phật phân định Tỳ kheo và Tỳ kheo ni. Về Tỳ kheo, trong pháp hội này chia ra bốn hạng là Pháp tánh Tỳ kheo, Tộc tánh Tỳ kheo, Thứ dân Tỳ kheo và Doanh vụ Tỳ kheo.

Trong pháp hội trước đã nói về Pháptánh Tỳ kheo, Tộc tánh Tỳ kheo và Thứ dânTỳ kheo. Vì thế, ở đây chỉ giải thích về Doanh vụ Tỳ kheo.

Doanh vụ Tỳ kheo làm công việc quản lý Tăng chúng và tự viện. Điều này khác với giai đoạn đầu Phật dạy rằng Sa môn không có nhà, không gia đình, không sự nghiệp,không tiền của. Tỳ kheo có tài sản riêng thì không còn là Tỳ kheo.

Giai đoạn đầu, người tu hành lấy việc khất thực làm chính. Một y, một bát, một bữa ăn, ngủ dưới gốc cây một đêm là pháp Đầu đà được tôn trọng. Ngày nay, thời đại và quốc độ của chúng ta không thể làm như vậy. Nếu chấp điều này để tự ràng buộc mình thì khó giải thoát, khó đắc đạo.

Chúng ta còn nhớ Tần Bà Sa La cúng dường Đức Phật Trúc Lâm tinh xá. Tất nhiên phải có người quản lý tinh xá, chẳng lẽ bỏ. Đức Phật dạy rằng Tỳ kheo đi một mình như con tê giác một sừng sống một mình. Điều này đúng, nhưng nay con tê giác có dẫn theo nhiều tê giác khác, tức có Tăng đoàn thì Phật bắt đầu đặt ra pháp quy y Tam bảo và Lụchòa. Trước đó, không có hai pháp này.

Vì có Tăng đoàn, Phật phải đưa raphương cách quản lý là pháp quy y và Lục hòa; không thể khác. Cũng vậy, có Thiền đường, có chùa, có đại chúng cùng tu, phải có thanh quy. Tê giác một sừng sống một mình, ý niệm này đã qua. Thời Phật là Sa môn Gautama được ví như tê giác một sừng sống một mình. Nhưng đến thời Lộc Uyển thì khác, vì đã hình thành một tập thể hai Tỳ kheo khất thực chia cho sáu Tỳ kheo cùng sống. Cách sinh hoạt của chính Đức Phật còn có thay đổi. Tại sao ngày nay chúng ta lại chấp chặt vào một điều nào. Giai đoạn nào cần áp dụng pháp gì để mang lại sự lợi ích cho chư Thiên và loài người thì pháp đó có giá trị. Không có một khuôn mẫu cố định cho mọi việc. Muốn giải thoát phải thích nghi với hoàn cảnh; nếu không, tự gây khó khăn, ràng buộc mình.

Pháp quy y và L1`ục hòa được quy định ngay trong thời Phật, thể hiện qua việc hai Tỳ kheo khất thực, sáu Tỳ kheo chia nhau dùng. Điều này nói lên việc trạch nhân trí tài, nghĩa là chọn người giao việc trong tu viện. Tâm của Đức Phật và Kiều Trần Như thanh tịnh như hồ nước trong, tiêu biểu cho Thánh hạnh. Hai vị này khất thực khiến cho người phát tâm và cúng dường. Bốn người còn lại chưa đắc đạo, còn buồn giận mà đi khấtthực thì người khác trông thấy khởi tâm xem thường. Vì danh dự của đoàn thể, người có ba nghiệp chưa thanh tịnh phải ở chùa lo tu hành. Sống Lục hòa, nương nhau tu; người giỏi chỉ dạy cho người kém hơn; người phước nhiều san sẻ cho người ít phước. Đó là ý thức xây dựng hướng đi lên của tập thể.

Sau đó, Phật chế luật Tỳ kheo; nhưng về sau cũng được sửa đổi nhiều cho thích hợp với từng thời kỳ, từng nơi. Thí dụ không được đốt thây chết hay khạc nhổ trước tháp Phật. Điều này chắc chắn chỉ có sau thời A Dục, vì lúc ấy mới có tháp Phật cần được tôn trọng. Những điều luật thuộc về oai nghi được chế đặt thêm cho thích hợp, vì nảy sinh vấn đề do các Tỳ kheo xuất thân từ giai cấp thấp; họ đi đứng, ăn uống thô tháo, làm gì cũng khó coi. Thậm chí có cả điều luật "Cấm không được chen vô giữa hai người để chiếm chỗ”!

Có thể nói luật của Phật nhằm bảo đảm đời sống trong sáng của Tỳ kheo. Ngài giáodục người thăng hoa, xứng đáng một bậc tu hành phạm hạnh. Về phần luật căn bản xây dựng con người, chúng ta tôn trọng. Tuynhiên, những điều không cần thiết đối vớithời đại và đất nước, chúng ta để đó. Thí dụ như điều luật cấm đi đường không được lượm lông dê …. Theo tôi, ngày nay nếu cần, chúng ta quy định rằng Thầy tu không được đi Honda phóng nhanh, vượt ẩu. Phải nhớ rằng thời Phật, khi nào có người thưa thì Phật mới chế ra luật. Điều quan trọng là làm sao thích nghi được cuộc sống và bảo đảm được nét cao đẹp của người tu.

Đức Phật dạy Tỳ kheo phải nuôi lớn Thánh chủng, hay hạt giống Thánh của mình là đạo đức và tri thức. Thiết nghĩ việc gì cũng được, chính yếu đối với quý Thầy là phát huy đạo đức và tri thức. Những việckhác là tùy người, tùy chỗ, tùy lúc mà có khác nhau. Việc gì mà xã hội lên án, bài trừ, dĩnhiên chúng ta không phạm. Bước theo dấu chân Phật, chúng ta cố gắng phát huy trí tuệ để phá vô minh. Thầy Tỳ kheo đặt việc hiểu biết lên trên hết. Tôi nghĩ làm như vậy thì không đụng chạm ai. Hay nói đúng hơn, càng đụng với người về trí tuệ, chẳng có hại gì cho ta, còn làm trí ta sáng hơn.

Sự hiểu biết của người tu càng được phát huy càng tốt. Sa môn đoàn có nhiều người như vậy càng dễ phát triển đạo pháp. Phá phiền não ác, dẹp được bốn loại ma, chúng ta đã đứng vào hàng giải thoát Tăng gồm có tam Hiền và thập Thánh. Theo Đại thừa, tam Hiền gồm có Bồ tát Thập Trụ, Thập Hạnh và Thập Hồi hướng. Đối với Nhị thừa, hàng Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn là Hiền vị và A lahán là Thánh quả. Chúng ta tự định vị lại xem mình là ai, đang tiến tu ở vị trí nào.Không bị ngũ ấm ma, phiền não ma quấy rầy; ăn món ngon hay dở, hoặc bát không, thì lòng vẫn trong như nước hồ thu. Đó là đờisống lý tưởng của Tỳ kheo.

Sau khi Phật diệt độ, xã hội văn minh thì Tỳ kheo khất thực, mặc áo phấn tảo khó được xã hội trọng dụng; vì họ ít hiểu giáo nghĩa của Phật dạy để hành Đầu đà. Đa số người khất thực với mục tiêu không tốt. Nếu takhất thực cũng sẽ chịu ảnh hưởng xấu này. Về việc mặc áo phấn tảo cũng cần được xét lại; ăn mặc dơ bẩn, không ai dám đến gần, làm sao truyền đạo.

Đạo đức của người tu thể hiện qua ba việc ăn, mặc và ở. Hạn chế sự tiêu phí để có dư san sẻ cho người là đạo đức của nhân loại. Xã hội nào mà không công nhận điều tốt đẹp này. Ăn, mặc, ở sang trọng vì mồ hôi của người khác là ngồi mát ăn bát vàng, bị xã hội lên án. Tỳ kheo sống thanh đạm, tích cực làmcho người khác hưởng, thì ai mà không quý trọng.

Theo Phật, Tỳ kheo nỗ lực xây dựng Thánh tài và Thánh chủng, đoạn trừ được ba ác nghiệp của thân khẩu ý, trí tuệ phát sanh và sống lợi ích cho xã hội. Đó là tinh ba mà Đức Phật dạy Ca Diếp thừa kế Ngài phải lo cho người đời sau.

Trở lại vấn đề Doanh vụ Tỳ kheo. Có chùa, có tinh xá, phải có chư Tăng quản lý. Phật mới đặt thêm Doanh vụ Tỳ kheo. Ngày nay gọi là Trụ trì làm nhiệm vụ giữ gìn củaTam bảo và của chúng Tăng. Muốn làm tròn trách nhiệm này một cách tốt đẹp phải làngười không tham, sân, si. Còn tham mà được giao cho giữ gìn, họ sẽ lấy cắp của Tam bảo. Hoặc họ coi tài sản của chùa là của riêng thì họ tiêu xài tự tung tự tác, có hại cho đạo và khi có người phê phán thì họ sẵn sàng sống chết.

Doanh vụ Tỳ kheo cần tự ý thức rằng mình chỉ là người quản lý chùa và Tăng chúng, không được tham, nhất là không si mê. Không si mê nghĩa là vị Trụ trì xử lý hợp tình, hợplý, đưa ra giải pháp mà mọi người phải chấp nhận, tôn trọng. Trụ trì sáng suốt mới giải quyết được Bảy pháp dứt sự tranh cãi theogiáo điển của Phật dạy. Đối với việc nào không đáng, chỉ nên để đó, vì phanh phui thì làm hư việc. Trái lại, đối với việc phải xét xử mà cũng để đó, thì mọi việc cũng hỏng.

Tỳ kheo si mê không thể làm Trụ trì, không thể quản lý chùa và Tăng chúng. Họ không biết phải trái, dễ quyết định sai lầm, làm khổ chúng Tăng. Tỳ kheo có khả năng quản lý, nhận xét đúng người, giao đúng việc, không có vấn đề xảy ra. Mọi sự tranh chấp nộibộ đều xuất phát từ việc giải quyết không hợp tình hợp lý khiến đại chúng không tuân phục. Nói chung, giải quyết sáng suốt, mọi việc đều tốt.

Quản lý Tăng chúng, quản lý chùa mà không phát triển được nhân tố tốt, nhân tài trong Phật pháp, là một thiếu sót lớn. Đừng nghĩ bình đẳng chung chung. Thử nghĩ chia đều cho mọi người thì họ làm được gì. Trong lúc có người nếu được giúp đỡ, họ sẽ dễ dàng phát huy tài năng. Có trí tuệ thì thấy được khả năng của người và dồn sức đầu tư cho họ để tương lai họ gánh vác Phật sự. Có người sống khổ hạnh lại tu được, nhưng cho họ tiền là tạo cơ hội cho họ hư hỏng. Phật giáo Nhật Bản biết đầu tư đúng người, đúng việc, nên đạo phát triển.

Thực sự làm Tỳkheo Doanh vụ, lo việc quản lý không đơn giản. Họ còn phải biết cái nào của thập phương Tăng hay của thường trụ Tăng. Của thường trụ phải chia chothường trụ. Của thập phương chia cho thập phương. Không nên đem dùng cái này cho cái khác. Thập phương Tăng là chùa khác. Chùa ta giàu, ta tự ý đem cho chùa khác là tội. Của thường trụ phải do Tăng chúng quyết định và ta là người thi hành. Của thường trụ Tăng có dư mà muốn chia cho thập phương Tăng, phải họp thường trụ Tăng để giải quyết; tất cả đồng ý mới được chia. Nhận thức sáng suốt mới xử lý việc trong tinh xá tốt đẹp.

Trong hàng đệ tử Phật, Châu Lợi Bàn Đà là người nổi tiếng quản lý tốt nhất. Em của ngài là Bàn Đặc không có tài năng gì, thì ngài cũng không bao che, chỉ giao cho ông ấy công việc quét lá.

Tuy trước khi tu, mỗi người có chủng tánh ưu khuyết khác nhau. Nhưng khi đã xuất gia, mặc áo tu, sống trong giáo pháp Phật, họ đều được bình đẳng. Trong thời Phật, Ngài sắp xếp việc bình đẳng như thế nào. Chưa đi tu thì có giai cấp, nhưng vào Tăng đoàn thì xóa giai cấp. Phật dạy rằng những người xuất thân dòng họ Thích xuất gia phải nhờ Ưu Ba Ly làm Thầy, dù trước kia ông thuộc giai cấp thợ thuyền.

Tuy các Tỳ kheo bình đẳng, nhưng vẫn có thứ bậc. Ai tu trước, thọ giới trước, thì lớn hơn. Nghĩa là căn cứ vào tuổi hạ để phân định lớn nhỏ, thí dụ 40 tuổi hạ, 60 tuổi đời thì được tấn phong Hòa thượng. Vì vậy, cónhiều Đại đức thông minh, làm được nhiềuPhật sự hơn Hòa thượng, nhưng vẫn là Đạiđức.

Tuy nhiên, ở thời kỳ chúng ta, có những trường hợp được đặc cách vì công vụ. Thí dụ tôi được tấn phong Hòa thượng dù còn thiếu hai tuổi đời, để có thể đáp ứng yêu cầu của côngviệc chung. Lúc đó tôi giữ chức vụ Quyền Trưởng ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh. Nếu là Thượng tọa thì tôi không thể quyết định, vì còn các vị Hòa thượng khác.

Sở dĩ phải phân ra Pháp tánh hay Tộc tánh Tỳ kheo để giải quyết vấn đề chungđược lợi ích; vì người nhỏ không thể lãnh đạo người lớn thì Phật sự khó phát triển. Có chọn được nhân tài lãnh đạo, Giáo hội mới mạnh. Xưa kia, Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông đã chọn Pháp Loa làm Tổ lúc ngài mới 23 tuổi đời, 3 tuổi đạo. Trần Nhân Tông phải bố trí đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh và mời vua Trần Anh Tông về tham dự chứng minh. Vì có nhiều Tỳ kheo lớn mà lại đưa vị Tỳ kheo còn nhỏ tuổi đời, nhỏ tuổi đạo lên làm Tổ, e khó được chấp nhận. Ngài trao y bát cho Pháp Loa vì nhận ra được đó là bậc kỳ tài vượt trội hơn người lớn.