cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển V - Kinh Đại Bảo Tích - Tập 2HT. Thích Trí Quảng


Trong pháp hội này, Ma ha Ca Diếp đại diện chúng hội hỏi Phật về các pháp tu của Thanh văn. Pháp Phật dạy nhằm mục tiêu đưa người ra sanh tử đến cứu cánh Niết bàn. Nhưng phần nhiều các Tỳ kheo rơi vào tình trạng chấp pháp của Phật, lấy phápràng buộc mình, nên tu mà không được giải thoát. Từ chấp pháp thế gian đã khổ, vào chùa chấp pháp xuất thế gian lại càng khổ hơn nữa. Các Thầy nên suy nghiệm điều này để tìm lối thoát.

Giáo pháp là thuyền bè đưa chúng ta qua sông mê bể khổ. Vậy mà một số Thầy tu lại tự lấy pháp để ràng buộc mình và lại sanh ra nghi ngờ pháp tu. Thật vậy, mới tu, có tâm niệm tốt về pháp tu. Tuy nhiên, sau khi thực hành một thời gian thấy không đúng ý nguyện ban đầu. Vì vậy, niềm tin của họ bị sút giảm. Lúc ấy, họ đi tới không được, vì không thấyhướng đi; nhưng thụt lùi cũng không được, vì trở về thế gian biết làm gì để sống.

Tình trạng sống dở chết dở như vậy, ở trong chúng, họ không còn thú vị với việc đọc tụng kinh điển hàng ngày; vì thấy việc đó không bổ ích với họ. Và đối với công tác của chúng, thì cảm thấy như là bị đẩy vào việc nặng nhọc và lại sợ bệnh. Có Thầy tụng kinh, đắp y sợ nóng, công tác chúng thì sợ bệnh. Từ ý thức không đúng ấy dẫn đến tâm phiền não, thân bệnh hoạn. Sống trong đạo không tiến được, không tin việc tu hành của họ cócông đức. Trong khi cư sĩ làm việc suốt ngày cực khổ mà còn ráng dành thì giờ ghé chùa tụng kinh, sám hối. Chúng ta ở chùa mà hai thời kinh cũng không chịu nổi. Tiếp tục tutheo cách đó, đã rơi vô tu hình thức.

Trong kinh Bảo Tích, Ca Diếp trình bày có bốn hạng Sa môn. Thứ nhất là Hình phạm Sa môn đã bị chê trách, đương nhiên hạng lợi dụng chiếc áo tu còn tệ hại hơn nữa, đáng bị loại, không nói đến. Hạng Hình phạm Sa môn đi đứng theo khuôn mẫu, nhưng không biết việc này dẫn đến kết quả gì. Hình thức để chuyên chở nội dung, làm việc gì cũng biết rõ kết quả mới nhiệt tình. Từ kết quả một tiến lên kết quả hai, ba …, từng bước thăng hoa. Cố chấp trở thành công thức, chúng ta giống như con ong cái kiến, đời cha ông nó làm vậy, nó cũng làm y vậy. Trong khi chúng ta tu không phải muôn đời làm Sa môn hình thức.

Bắt đầu làm cư sĩ tiến lên xuất gia
làm Sa di, Tỳ kheo, Thượng tọa, Hòa thượng, Thánh La hán…; đó là con đường đi lên. Kẹt hình thức thì muôn đời vẫn ở đây; từ sơ phát tâm tu cho đến 80 tuổi, cuộc đời không thay đổi, hình thức và việc làm không có gì mới. Trẻ làm được, nhưng già không làm nổi, là thụt lùi. Theo tôi, trẻ dùng sức, già dùng đức. Không có đức cao, chúng ta sinh hoạt bằng với Tỳ kheo trẻ thì sẽ bị đẩy lùi, rồi sanh ra bất mãn.

Hạng thứ hai là Sa môn chỉ lo phát triển việc học rộng, biết nhiều, nói nhiều. Tuy nhiên, bản thân họ không làm được gì và cũng không ai theo họ; vì cuộc sống và lời nói của họ hoàn toàn trái với lời Phật dạy. Phật ví hạng người này là ông thầy thuốc chữabệnh cho thiên hạ, nhưng không chữa được bệnh của mình. Thật vậy, đàn việt tín tâm nghe họ nói và tu hành có kết quả tốt, tạo được công đức, được lành bệnh. Trong khi họ đem pháp giải thoát dạy người mà thực chất không đạt được sự lợi lạc nào.

Hạng thứ ba có học Phật pháp, được học vị đàng hoàng, nhưng thiếu tu; nên mắc bệnh chấp ngã, chấp pháp nặng nề và cũng không làm được việc. Hoặc là những người tỏ ramình tu hành để cho mọi người biết, cũng tham dự khóa Trụ trì, nhưng chỉ là danh nghĩa Trụ trì khác với làm Trụ trì đúng nghĩa. Hoặc những người muốn có tiếng là tu cách ly thế tục, ở núi rừng, nhưng lại sống với đủ thứ tiện nghi như ở thành phố và suy niệm những việc sai trái. Hình thức tu để cầu danh cho người biết là hỏng.

Thực chất người tu thường sợ người khác biết được cái tu của mình. Tại sao sợ? Vì họ biết mình được cái hay gì, họ sẽ tìm cách lấy, hay chiếm đoạt. Thí dụ ta giỏi, thôngminh, có bằng cấp cao, làm được việc, họ sẽ dụ dỗ ta hoàn tục, hay tìm cách trù dập ta. Các Bồ tát thường sống "Nội bí ngoại hiện” nghĩa là dấu kín những cái hay của họ, chỉ sống bình thường như mọi người, mà việc gì Bồ tát cũng làm được. Còn danh tự Sa môn hay Hình phạm Sa môn, điều gì cũng biết; nhưng thực tế không làm được gì.

Làm Trụ trì, làm cán bộ Giáo hội muốn thành công, đòi hỏi là thực chất Sa môn không cần danh, không cần người biết. Nhưng nội dung sinh hoạt của Tăng đoàn, chúng ta nắm rõ và thực hiện được tốt đẹp.

Sống được giải thoát là hàng chân thật Sa môn được Đức Phật chọn. Họ thường suy nghĩ pháp Phật, cân nhắc áp dụng trong cuộc sống hàng ngày, mới tăng trưởng đạo lực; đầu tiên thấy rõ là họ được giải thoát. Người giải thoát thật khác với người cầu danh, lòng họ không cần, phước đức tích tụ thật thì người tự động kính mến.

Tổng hợp tất cả kinh điển của Phật dạy không ngoài pháp Tứ Thánh đế, Thập nhị Nhânduyên và Lục Ba la mật. Nói với Thanh văn, Phật dạy Tứ Thánh đế; nói với Duyên giác, Ngài dùng mười hai Nhân duyên và nhắc đến Bồ tát, Ngài nói sáu pháp Ba la mật mà Bồ tát chứng đắc.

Tu theo hình thức, thì giải thích đủ thứ, nhưng không đạt được quả Sa môn. Có bốnquả Sa môn là Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm và A la hán. Các pháp Phật dạy giúpchúng ta trở thành Sa môn thật là phải có bốn quả vị này. Hạng Sa môn thấp nhất, chứng quả Tu đà hoàn mới bắt đầu được đứng vào hàng đệ tử xuất gia của Phật. Ý thức điều này, phải phấn đấu để đạt được quả Dự lưu, mới thấyđược con người thật của chúng ta là chân linh. Con người thấy bằng mắt là giả tướng.

Phải định vị con người thật của mình để biết đã tu đời trước đến đâu hay mới phát tâm đời này và từ đó chúng ta khởi tu tiếp. Còn thấy người được thành quả nào đó, chúng ta cũng muốn được, bắt chước tu; nhưng không có phước đức trí tuệ, cũng chẳng được gì.

Trên lộ trình tiến tu, cần nỗ lực hình thành cho được Pháp tánh Tỳ kheo hay Tộc tánh Tỳ kheo. Pháp tánh Tỳ kheo sống đúng với chân lý, thông minh, hiểu pháp Phật. Vì vậy, họ ứng dụng chánh pháp vào việc độ sanh có kết quả lợi lạc. Từng bước họ thăng hoa và trở thành Hiền Thánh. Đối với họ, mọi việc làm trên cuộc đời chỉ là phương tiện để phát sanh trí tuệ. Đời trước, họ đã lấy trí tuệ làm sự nghiệp và đời này cũng sống với trí tuệ, nên gọi là Pháp tánh Tỳ kheo. Họ có Thánh tài vô tận là trí tuệ dùng mãi không hết. Phật dạy rằng càng bố thí, giảng dạy, truyền bá, thì trí tuệ của người tu càng sáng thêm.

Pháp tánh Tỳ kheo đã trải qua nhiều đời tu, đã thấy tánh. Khi tái sanh gặp Phật là đắc La hán liền. Điển hình như Xá Lợi Phất đã thấy pháp, nên khi gặp Phật khai ngộ, ngài liền đắc đạo. Thậm chí có vị mới năm, mười tuổi đã được xếp vô hàng trưởng lão, như cậu bé 7 tuổi mà tôi gặp ở Ấn Độ. Chú bé ấy làm chủ trì đàn lễ có cả trăm vị Lạt Ma. Có thể nói đó là hình ảnh của Pháp tánh Tỳ kheo, là vị Lạt Ma lớn tái sanh lại, nên thông minh xuất chúng, chưa học đã biết và thể hiện nội lực ảnh hưởng được nhiều người.

Tộc tánh Tỳ kheo xuất thân dòng dõicao quý, xem thường quyền lợi thế gian mớibỏ tục xuất gia. Họ có phước đức, tiền của vàquyến thuộc, nên làm được nhiều việc, dễdàng tăng trưởng giới đức. Càng bố thí cúng dường, phước họ càng tăng, càng giảng dạy, trí họ càng sáng. Điển hình như Đức Phật Thích Ca tiêu biểu cho Pháp tánh Tỳ kheo chuyên giảng dạy, nên Ngài mau đến quả Vô thượng Bồ đề. Trong khi Di Lặc Bồ tát tiêu biểu cho Tộc tánh Tỳ kheo chuyên bố thí,cúng dường và tiếp Tăng, độ chúng.

Ngày nay, các Thầy trụ trì cần hiểu rõ hàng tu sĩ thuộc Tộc tánh Tỳ kheo thường không chịu cực. Họ sanh trong gia đình giàucó, thế lực, sức khỏe tốt và ngoại hình dễ coi. Nói cho họ nghe theo và tuân phục không phải dễ. Nếu nói hợp với họ thì họ ở lại tu với chúng ta; nói trái ý, họ bỏ đi. Điều này dễ hiểu. Thực tế chúng ta thấy người giàu đều thích đượctrọng vọng, kính nể. Họ cúng dường, thì phải được gì; bị xem nhẹ thì họ không theo ta.

Tộc tánh Tỳ kheo có phước đức và Pháp tánh Tỳ kheo có trí tuệ, hai thành phần này dễ đến với đạo. Có nhiều người xuất gia thuộc hai thành phần này, đạo phát triển dễ dàng. Trái lại, người nghèo khổ không có trí tuệ và người đi tu vì hoàn cảnh, thì vô chùa, họ cũng dễ thương, siêng năng lao động tay chân. Nhưng thường hạng này không thôngminh, làm sao thâm nhập pháp Vô thượng Đẳng giác. Khi Thầy qua đời, họ lên trụ trì, kế nghiệp Tổ mà không giống Tổ điểm nào, vì từ công quả lên Trụ trì, chỉ biết vật chất mà thôi.

Hàng Tỳ kheo này tuy vậy còn làm được một số việc. Đáng sợ nhất là hạng nghiệp chướng Tỳ kheo, từ nghiệp chướng họ dễ trở thành ác độc. Họ từng thất bại, thấtvọng, thất tình, v.v… vô chùa tu. Nên cẩn thận, họ đa nghiệp, làm được một số việc đời vì có kinh nghiệm thế gian. Họ bắt đầu xúi giục Thầy trụ trì làm kinh doanh, thì chùa biến thành chợ.

Chỉ có Pháp tánh Tỳ kheo là quý nhất. Các Thầy phải hướng về trí tuệ, phát triển trí tuệ kèm theo đạo đức. Có đạo đức mà thiếu trí cũng nguy hiểm. Trong bốn hàng Sa môn, chỉ có Pháp tánh Tỳ kheo là chứng từ Sơ quả đến Tam quả. Thật vậy, họ thông minh, thấu hiểu nghĩa sâu xa của giáo pháp mới áp dụng và chứng được Sơ quả; nghĩa là không còn lệ thuộc xã hội và thiên nhiên.

Chúng ta nỗ lực tu bước đầu phải tập sống độc lập thực sự; còn lệ thuộc bổn đạo là hỏng, gọi là làm dâu trăm họ. Lệ thuộc bổnđạo dễ dẫn đến tình trạng các Thầy đấu cấu nhau, vì mỗi Thầy đều có hậu thuẫn tín đồ riêng.

Chưa tu, ta bị lệ thuộc thiên nhiên và xã hội. Tập tu, hay tập giảm bớt ảnh hưởng của xã hội và thiên nhiên, cho đến độc lập với hai thứ tác động của nó. Và sau cùng, thành Phật thì chuyển đổi xã hội và thiên nhiên theo ý ta. Chính vì vậy, quả vị Như Lai nghĩa là chuyển vật; chúng sanh thì bị vật chuyển. Chúng ta là Sa môn chưa chuyển được vật, thì ít nhất cũng sống độc lập được.

Lệ thuộc vào thiên nhiên thì luôn luôn bị nóng, lạnh, đói, khát chi phối. Mới tu, ta thường bị lệ thuộc bốn thứ này. Phật dạy chúng ta cần tứ sự là ăn, mặc, ở, thuốc men không thể thiếu được.

Thật tu, trước tiên chúng ta cần khắc phục bệnh hoạn; trước kia thường ốm đau, nhưng tu thì khỏe mạnh lần. Nói cách khác, từ một con người không dùng được, nhờ Phật pháp trở thành người hữu dụng. Con người bệnh hoạn và phiền não, thân bệnh và tâm bệnh tác động lẫn nhau đưa chúng ta vào sanh tử luân hồi. Trên bước đường tu, bằng mọi cách phải thoát khỏi tâm bệnh, không bị xã hội chi phối; không có thân bệnh, không bị thiên nhiên chi phối.

Đối với sự chi phối của thiên nhiên, chúng ta dễ điều chỉnh, khắc phục. Muốn không bệnh, căn bản là điều chỉnh việc ăn uống, ngủ nghỉ. Đời sống Sa môn không cần nhiều như chúng ta tưởng lầm, tưởng rằng phải ăn nhiều mới khỏe mạnh. Thực sự chỉ vì tham vọng quá đáng khiến chúng ta đòi hỏi nhiều, trong khi thực phẩm cung cấp cho cơ thể không cần nhiều lắm, ăn nhiều sanh bệnh. Chỉ cần dùngthức ăn thích hợp và đủ cho cơ thể là chính yếu.

Điều chỉnh vấn đề ăn uống đểkhỏi sanh bệnh và giảm bớt ăn uống ngủ nghỉ đến mức thấp nhất. Được như vậy, chúng ta sống đơn sơ giản dị mà khỏe mạnh. CácThiền sư thể nghiệm được điều này, họ không bị nóng lạnh trước cái nóng lạnh của trời đất, là đã chiphối được thiên nhiên. Người cơ thể bạc nhược thì trời chưa lạnh, họ đã thấy lạnh và bốn mùa đều bị cảm mạo. Thiền sư không bị nóng lạnh bên ngoài chi phối trong lúc nhập Định, vì tự điều chỉnh được cơ thể thích nghi với nhiệt độ bên ngoài, mà chính yếu là điều chỉnh tâm của họ.

Có thể nói nếu thật là Sa môn tu hành, tâm hồn bình ổn rồi thì cơ thể có được sức điều hòa kỳ diệu. Ý thức như vậy, chúng ta đừng để tình cảm tác động làm rối loạn nội tạng của cơ thể và từ đó phát sanh mọi thứ bệnh tật.

Cơ thể con người là cỗ máy kỳ diệu có khả năng điều chỉnh thích nghi với môi trường sống. Tuy nhiên, với sự tiến bộ của khoa học ngày nay, mặc dù giúp ích được cho con người, nhưng nó cũng có mặt không tốt. Thí dụ chúng ta sử dụng máy điều hòa không khí để tạo cảm giác mát hay ấm. Nhưng thực ra càng sống nhờ những thiết bị này thì cơ thể chúng ta càngbạc nhược; vì đã tự đánh mất khả năng điều chỉnh thân nhiệt củachúng ta.

Những người ở Pháp, Mỹ,Canada, v.v… khi về Việt Nam, họ thường bị bệnh liền và than phiền tại bụi bặm, nóng bức, ồn ào… làm họ bệnh. Nói cách khác, họ quen sống trong môi trường sạch, nên kháng thể yếu, mới bị vi trùng tấn công. Trong khi chúng ta ở đây,cơ thể đã quen sống với những thứ ô nhiễm,tự nhiên cơ thể chúng ta tạo ra sức đề kháng cao.

Sống trong nhà Phật cũng vậy, Đức Phật đưa ra bốn Thánh đế, mười hai Nhân duyên và sáu pháp Ba la mật để tạo kháng thể giúp chúng ta chống lại bệnh tật và thiên nhiên, được giải thoát. Thể hiện ý này, Phật dạy Ca Diếp rằng không phải tìm đến Niết bàn nào ở đâu xa, mà ở ngay nơi chúng ta sống; đừng đểrơi vô ảo giác.

Các Thầy tu bốn Thánh đế và mười Nhân duyên, phải chú ý đến môi trường chúng ta đang sống. Chúng ta ở trong sanh diệt, tất yếu cần trắc nghiệm pháp Tứ đế sanh diệt. Khi nào chứng Vô sanh, mớitu pháp không sanh diệt Tứ Thánh đế.

Trong ba mươi bảy Phẩm trợ đạo, tự kiểm xem nó đã trở thành kháng thể giúp chúng ta điều phục tất cả vi trùng xâm hại Pháp thân Bồ tát (là đạo đức và trí tuệ), hay chưa. Chúng ta thí nghiệm từng bước, đối mặt với hoàn cảnh khắc nghiệt, phiền não, nhiễm ô, để trí tuệsanh ra, nghĩa là có khó mới có khôn.

Tất cả pháp Phật để trị tâm bệnh cho chúng ta. Phải biết rõ kháng thể nào của Phật đưa ra nhằm chống lại vi trùng phiền não nào. Theo khoa học, thí dụ muốn làm thuốc ngừa bệnh lao, người ta làm cho vi trùng lao yếu đi, rồi mới tiêm vi trùng đó vô để cơ thể tiêu diệt nó. Khi cơ thể mạnh, tiến đến sử dụng vi trùng mạnh hơn. Pháp Tam thừa mà Đức Phật dạy cũng giống như vậy.

Mới đầu, chích vi trùng yếu nhất vô cho chúng ta quen, tức làm Sa môn hạn chế hoàn cảnh xấu, không cho nó tác động; nhờ đó, chúng ta yên tâm tu. Ở chùa không bị phiền não quấy rầy, không lo cơm ăn áo mặc. Theo kinh Pháp Hoa, đó là Hóa thành ở dạng thấp nhất của Phật nhằm tạo điều kiện cho chúng ta làm Sa môn, không bị đói khát. Núp bóng Phật tu thì sự chống chọi của chúng ta đối với cuộc đời có thể nói chỉ còn mười phần trăm.

Thuở nhỏ, tôi lên thành phố Saigon tu học. So với những học sinh ở ngoài đời từ nhà quê lên thành phố học, tôi được hưởng ưu thế hơn nhiều. Vì ở chùa, tôi không tốn tiền cơm, tiền nhà và học phí được giảm năm mươi phần trăm. Như vậy, con vi trùng xã hội và thiên nhiên đã bị Phật làm yếu đi. Tôi chỉ còn lo tấn công vi trùng nhỏ, lo khắc phục phiền não của chính mình, không đáng chút nào. Thật vậy, ở chùa, không ai chọc tức, làm phiền hà mình. Người đời phải hơn thua mới sống nổi; trong khi chúng ta ở chùa, không lo, cũng có cơm ăn, không bao giờ phải sợ đói. Vì vậy, Thầy tu ở chùa thì không có lý do gì để phiền não phát sanh.

Có thể thời gian đầu chúng ta chưa quen với nếp sống "tương chao”. Nhưng với thời gian, chúng ta quen dần với thuốc ngừa là những con vi trùng đã bị làm yếu đi. Nói cách khác, chúng ta quen với nếp sống Samôn không còn bị phiền não vì ăn, mặc, ởquấy rầy; sống trong vòng đai an toàn của chùa, không còn bị hoàn cảnh xấu tác động. Từ đó chúng ta, bắt đầu nhìn đời rộng hơn qua pháp quán Nhân duyên.

Quán nhân duyên không phải là đọc suông pháp mười hai Nhân duyên, nhưng là Thiền quán để theo dõi tình cảm của chúng ta bộc phát thế nào khi tiếp xúc với việc, với người. Hay đó là sự suy nghĩ về kiếp nhân sinh, thấy được mối liên hệ giữa ta và người, giữa ta với thiên nhiên. Quán tưởng được cuộc đời và biết rõ sức tác động của nó đối với ta, nghĩa là cơ thể chúng ta đã mạnh thêm một chút nhờ tiêm vào vi trùng ngừa bệnh mạnh hơn.

Từ góc độ thấy được cuộc đời và tiêu trừ được ảnh hưởng của nó sau nhiều năm tu quán Nhân duyên, chúng ta lại tiêm thêm vi trùng ngừa bệnh mạnh hơn nữa. Đó là pháp tu Bồ tát để vừa giải quyết việc mình và vừa lo cho người đồng hành với mình.

Như vậy, giai đoạn một, tu Thanh văn thừa thì Phật lo cho ta và ta cũng tự lo một phần. Sang giai đoạn hai, tu Duyên giác thừa, ta tự lo cho bản thân mình được và đến giaiđoạn ba, bắt đầu hành Bồ tát đạo, tự hành hóa tha, vừa lo cho ta vừa lo cho đời. Trải qua ba giai đoạn tiến tu đúng hướng theo pháp Phật như vậy, từng bước chúng ta trưởngthành, thăng hoa tri thức và đạo đức, không uổng phí cuộc đời tu.

Khi Ca Diếp được Phật giải thích xong pháp này, năm trăm Tỳ kheo lễ Phật rồi bỏ đi. Đức Phật cho biết họ là Tộc tánh Tỳkheo, đã xuất gia từ thời Phật Ca Diếp. Nhờ tu hành, họ sanh lên cõi Trời được hưởng nhiều phước lạc. Nay tái sanh, họ vẫn nhớviệc tu hành, thấy Phật Thích Ca là phát tâm xuất gia liền. Tuy nhiên, vì còn kẹt ở "Tộctánh”, họ tự thấy có phước đức hơn người,đã từng tu có sở đắc, nên xem thường người. Vì kẹt với ngã và pháp như vậy, nên khi bị nói động tới là họ khó chịu, bỏ đi.

Đức Phật sai Tu Bồ Đề nên dìu dắt họ trở về. Tu Bồ Đề từ chối vì không thể làm nổi việc này. Họ dám bỏ Phật thì Tu Bồ Đề làm sao hướng dẫn họ được. Tu Bồ Đề chuyên về pháp Không và đắc pháp Không. Vì vậy, ngài thấy tất cả pháp đều Không, mới được giải thoát, nên không thể dìu dắt họ trở về.

Cuối cùng, hóa Tỳ kheo là hóa thân của Phật Thích Ca mới có khả năng dìu dắt họ trở lại. Điều này nhằm dạy rằng Đức Phật tiêu biểu cho chơn tánh là Phật Pháp thân vĩnh hằng. Nhưng từ chơn tánh muốn cứu nhân độ thế, Ngài phải hiện ứng hóa thân để tương ưng với người, mới dìu dắt họ được. Phật nói, họ không nghe; nhưng hóa Phật hay hóa Tỳ kheo đồng cảnh ngộ với họ thì họ dễ chấp nhận. Phật Pháp thân bất sanh bất diệt phải hiện thân con người mới dạy được. Hóa Phật phải hiểu thêm là thiên bá ức hóa thân của Phật tác động cho người nào, loài nào cũng thấy Phật gầngũi thân thương, họ mới tu được.

Phật thật nói pháp chân thật thì chúng sanh không hiểu, không tu được. Hóa Phật là Phật thị hiện hoàn cảnh giống người, mới khuyên bảo được; đó là mở ra cánh cửa Bồ tát. Và hóa Tỳ kheo dụ dẫn năm trăm người trở về với Phật, cũng có nghĩa là trở về chơn tánh.

Phổ Minh Bồ tát hỏi Phật phải thọ trì kinh này thế nào. Ngài trả lời rằng chơn tánh là một, nhưng phải tùy duyên, tùy hoàn cảnh giáo hóa chúng sanh là việc làm của các Bồ tát để thành tựu Phật quốc.

Bồ tát phải áp dụng pháp Phật là bốn Thánh đế, mười hai Nhân duyên và sáu pháp Ba la mật, kết thành thuyền bè vững chắc để đi vào sanh tử giáo hóa chúng sanh. Nương theo pháp Phật, thì cứu độ được chúng sanh, không bị nhận chìm trong sanh tử và đạt đến quả vị Toàn giác. Trái lại, không nương pháp Phật, chắc chắn bị bão tố sanh tử nhận chìm. Hoặc hướng về Niết bàn tịchtĩnh, từ bỏ thế giới này, cũng bị lạc đường, rơi vào không tưởng.