cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển V - Kinh Đại Bảo Tích - Tập 2HT. Thích Trí Quảng


Di Lặc Bồ tát hỏi Phật rằng làm thế nào lìa được ác đạo và ác tri thức, mau đến Vô thượng Bồ đề. Trong kinh Bảo Tích, Đức Phật cho biết Di Lặc tu trước Ngài mười kiếp; nhưng Đức Thích Ca thành Phật mà Di Lặc chưa thành Vô thượng Bồ đề, tức thành Phật sau.

Đức Phật Thích Ca nói nhờ Ngài tinh tấn tu hành, thành Phật sớm. Di Lặc tu nhưng thiếu tinh tấn, có nhiều việc không dám làm.Ý này cũng nhắc chúng ta tự kiểm xem mình có dám làm những việc như Phật hay không. Mặc dù chúng ta tôn thờ Phật như vị Bổn sư, nhưng quả thật việc của Ngài rất khó làm. Chúng ta phải chọn cách khác cũng tới Bồ đề mà tương đối nhẹ nhàng hơn, dĩ nhiên là mất nhiều thời gian hơn.

Di Lặc chọn pháp tu Phương tiện Ba la mật là phải đi vòng; có việc chưa làm được, nên ngài thành Phật trễ hơn Đức Thích Ca. Phật Thích Ca tu tinh tấn Ba la mật là Ngài đi tắt, tuy nhanh nhưng khó khăn và nguy hiểm.

Muốn tu tinh tấn Ba la mật để mau đến Vô thượng Bồ đề, Phật dạy phải có đủ điều kiện tiên quyết mới thực hiện được.

Trước nhất là phải có yếu tố Bồ đề là trí tuệ vượt trội hơn người mới có khả năng đi đường tắt. Đi tắt nguy hiểm mà chúng ta cứ đi và gặp chướng nạn, không vượt được, thì bị đọa xuống; không biết bao giờ mới trở lại thân người được.

Có trí tuệ, chúng ta có thể đốt giaiđoạn, đi tắt. Điển hình như ở một tiền kiếpxa xưa, khi Phật làm vương tử đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, thông minh, khỏe mạnh nhất, v.v… Ngài có một thân người hoàn thiện như vậy thì gặp một người bệnh xin máu, Ngài cho họ dễ dàng. Trong một kiếp kế tiếp, Ngài cũng hiện hảotướng và cũng có một người bệnh xin tủy của Ngài để chữa bệnh. Ngài cũng dám rút tủy cho để cứu họ.

Phật Thích Ca dám làm những việc khó làm để cứu giúp người, nên Ngài mau đến Vô thượng Bồ đề. Thiết nghĩ người muốn nổi tiếng trong đời thường cũng phải thành tựu được việc khó. Đức Phật được tôn kính là bậc Chánh Biến Tri Minh Hạnh Túc, tức sự hiểu biết và việc làm của Ngài đạt đến siêu tuyệt, đứng đầu mọi người, là Vô thượng Bồ đề. Ngài tu đốt giai đoạn được là vậy và trênbước đường tu, Phật cũng không hề tiếc thân mạng. Tại sao Ngài không tiếc thân mạng, trong khiPhật lại khuyên chúng ta phải giữ thân mạng để tu hành.

Phật không tiếc thân mạng vì bất cứ mạng sống sanh diệt nào đến thời điểm hoại diệt của nó thì đều phải bỏ, phải chuyển đổi. Điều quan trọng là Đức Phật nắm được nguyên lý chuyển đổi thân và thực hiện nguyên lý này một cách tốt đẹp, thì Ngài còn e sợ gì mà không dám bỏ thân.

Mạng sống thật của Như Lai là Pháp thân vĩnh hằng bất tử có thể ví như phi thuyền bay lên không gian, mạng sống hữu hạn của thân người ví như hỏa tiễn. Phi thuyền phải mượn sức đẩy của hỏa tiễn để bay vào vũ trụ. Nhưng khi bay được vào vũ trụ rồi, thì phải bỏ hỏa tiễn, giữ nó vô ích.

Phật Thích Ca thể hiện sự tinh tấn mà không bị đọa, không mất kiếp. Ngài bố thí thân này để có thân sau tốt hơn, có sự hiểu biết và đạo đức hơn. Chúng ta mang thân nghiệp nghèo đói, bệnh hoạn, ngu dốt, không thểbắt chước Phật thí thân. Vì ta bỏ thân này,không thể có thân khác tốt hơn, mà lại làm ma lang thang, hay thành quỷ giữ chùa là tự chuốc họa.

Có thể khẳng định rằng pháp tinh tấn của Phật chỉ dành riêng cho Ngài. Thật vậy, chưa nói đến việc khó làm của Phật, chỉ việc đơn giản như tu Thiền dành cho người thượng căn, thượng trí. Thử nghĩ xem chúng ta làhàng hạ căn, có thể nào làm được việc của người thượng căn hay không.

Ngài Trí Giả đại sư khai sáng tôngThiên Thai ở Trung Quốc, áp dụng giáo lýPhật vào việc tu Thiền và dùng Thiền để hiểu giáo lý sâu sắc. Theo ngài Trí Giả, không có trí tuệ, không tu Thiền được và không Thiền thì không sử dụng được trí. Thiền và giáo phải đi đôi. Cùng một nhận thức này, ở ViệtNam, Tổ Huệ Đăng lập Thiên Thai Thiền giáo tông. Riêng tôi, nhờ Thiền, tôi hiểu nghĩa sâu của giáo lý và nhờ giáo lý, tu Thiền có kết quả. Nghĩa là phiền não không phát sanh, đối với việc xảy ra, thì thấy biết chính xác. Thấy qua giáo lý và qua thật tướng pháp đều chính xác.

Thân không bệnh, tâm không phiền là Thiền. Thân không bệnh vì nương giáo lý Phật, tâm được sáng thì những gì gây rabệnh, chúng ta tránh. Thực tế những gì mà ngài Thiên Thai dạy, tôi áp dụng trong cuộc sống, thí dụ như ngài dạy tu Thiền trong ăn uốngngủ nghỉ, gọi là phương tiện.

Nếu ăn đúng pháp, không bệnh. Ngài khuyên đừng ăn những thức ăn không thích hợp với cơ thể mình. Mỗi người phải tự kiểm tra việc này. Thích hợp thì chất độc trở thành dược, không thích hợp thì chất bổ cũng trở thành độc. Đa số người ăn chay sợ củ cải trắng và măng, cho rằng nó độc. Riêng tôi, ở chùa Tổng Trì, Nhật Bản, ăn củ cải mỗi ngày, nhưng khỏe và ăn măng cũng hạp.

Ngài Thiên Thai ở núi, ăn toàn rau rừng, uống nước suối, nhưng rất khỏe. Phải biết rằng có trí tuệ và chọn thức ăn thích hợp, dùng đúng lượng cần thiết, cơ thể thành khỏe mạnh, tinh thần mới minh mẫn được. Đức Phật chỉ uống một bát sữa sau nhiều ngày nhịn đói là sức khỏe của Ngài phục hồi và chứng Vô thượng Bồ đề. Một linh hồn trong sáng phải ở trong cơ thể khỏe mạnh. Khi nào chúng ta bệnh, tinh thần cũng bệnh theo. Tu hành, chúng ta phải có tầm nhìn tối thiểu như vậy.

Và việc chữa bệnh tâm linh càng khó hơn nữa, cần áp dụng pháp nào để chữa bệnh là điều quan trọng. Nếu là hàng thượng căn, thì đốt giai đoạn được; hàng trung căn cần nương giáonghĩa và hạ căn thì phải nương phương tiện của Phật.

Đức Phật đã dạy Di Lặc muốn mau đến Vô thượng Bồ đề phải sám hối tội căn. Hàng nghiệp chướng Tăng tất yếu phải tụng kinh, sám hối, công quả để tiêu nghiệp, mớisanh ra phước. Tôi xuất thân từ gia đình nghèo, bệnh. Tôi lo sám hối tội căn là chính. Bịngười chê, không dám giận; tôi nghĩ tại mình nhiều tội, thiếu phước, phải lo tu phước vàsám hối cho tiêu tội. Vì vậy, tôi nỗ lực lạy Phật, không chán. Những Thầy tu chung ởPhật học đường, đại chúng cắt cử họ làm, nhưngkhông làm còn sân si, bỏ tu. Người tu xuất thân từ gia đình khá giả hay rơi vô bệnh này.

Trên bước đường tu, chúng ta nhận chân được sự thật, mới từng bước tu lên được. Bước chân vào đời, xem người đối xử với ta như thế nào để phát hiện ra tội chướng của ta. Hết nghiệp thì thiên hạ không đày ải chúng ta được; nghiệp mang thì có tránh cũng không khỏi. Chấp nhận làm việc mà đại chúng giao với lòng hoan hỷ và thâm tâm sám hối tội căn. Tội hết, phước hiện, người khôngdám xử sự tệ ác với ta nữa. Nếu thực sự mình có tướng vương tôn công tử thì ai dám sai bảo, hiện tướng Trời Đế Thích thì ai dám khinh chê.

Phật dạy Di Lặc muốn mau đến Vô thượng Bồ đề phải sám hối tội căn, vì tội chướng ngăn che tất cả. Ai cũng muốn cái tốt, muốn học, muốn tu, nhưng không được vìnghiệp chướng trần lao.

Bước đầu phải sám hối cho tiêu nghiệp và bước thứ hai, Phật dạy ta tìm cách vượt được bạn ác và thế giới ác mà chúng ta đang sống. Ai cũng sợ hoàn cảnh không tốt gồm có trụ xứ không tốt và bạn đồng hành không tốt; vì bị hai thứ này đeo dính, không thể tu được.

Muốn thoát khỏi bạn ác và thế giới ác, trước tiên phải thoát khỏi hoàn cảnh trongthâm tâm. Nói cách khác, Bồ tát có thân thọ hình, nhưng tâm không thọ hình. Thánh Gandhi diễn tả ý này rằng nó hành hạ con chó của tôi (Nghĩa là người Anh chỉ bỏ tù được thân xác của ông); nhưng không bỏ tù được cái tâm của ông.

Đừng dại khờ để người hành hạ tâm mình, chỉ có mình hành hạ tâm mình. Hòa thượng Thiện Hoa dạy rằng ngày nào mà không có tiếng thị phi, nhưng tai không nghe thì kể như không có.

Chúng ta phải tập quán Không. Chứng được pháp này thì mọi việc đối với chúng ta coi như không có; không có trong tâm ta thôi, còn bên ngoài nó vẫn hiện hữu. Còn chướng taigai mắt là việc vẫn có trong tâm ta. Tâm an trú pháp Không, phiền não trần lao tự biến mất. Đó là xác thân Bồ tát phải thọ nạn, chấp nhận trả quả báo, nhưng tâm vẫn an nhiên thanh thản, là hết nghiệp.

Và khi tâm không thọ khổ, thân hảo tướng lần lần hiện ra. Thực tế cho thấy người gặp hoàn cảnh khó, không buồn và vượt được gian khó rồi, mặt họ sáng ra. Bị khinh chê, chúng ta buồn giận, thì lại hiện tướng xấu nữa và họ sẽ chà đạp thêm. Tôi tự ý đi tu, không có cha mẹ gởi gắm, không có người thân đem gạo tiền cúng chùa, nên Trụ trì, huynh đệ tha hồ chà đạp. Tôi ý thức điều này, nhẫn nhịn tu hành, từ từ ngoi lên. Tâm thoát ly được hoàn cảnh khổ, nên người cũng thương, vì tôi dễ sai, dễ bảo. Nhờ vậy mới tiến tu được đến ngày nay.

Phật dạy quán Không để xóa nghiệp ác đời trước, xóa bạn ác khinh chê mắng chửi. Lòng ta không để ý thì hoàn cảnh xấu bên ngoài tự mất dần.

Ngoài ra, muốn mau đến Vô thượng Bồ đề, phải áp dụng Định Huệ. Nghĩa là việc gì xảy đến cũng phải tập trung tư tưởng, bình tĩnh sáng suốt sẽ thấy việc chính xác là Định sanh Huệ. Nhờ thấy biếtviệc chính xác, nên không bận tâm, không khởi phiền não và giải quyết đúng là Huệsanh Định. Định Huệ tác động hỗ tương. Và ứng dụng được Định Huệ trong cuộc sống thìngười mắng chửi, nói xấu, khinh dể, hay người dụ dỗ, ca ngợi, đối với chúng ta đều đúng, đều như nhau. Vì tất cả đều là phương tiện giúp chúng ta khắc phục nghiệp và thăng hoa đạo đức, tri thức.