cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển V - Kinh Đại Bảo Tích - Tập 2HT. Thích Trí Quảng


Vô Cấu Thí là con gái 8 tuổi của vua Ba Tư Nặc, cô bé cùng năm trăm vị Bà la môn đi cúng Thần cầu phước. Họ vừa ra khỏi cửa thành thì gặp các vị Sa môn đi vào thành khất thực. Những người Bà la môn nói với công chúarằng mới bước ra mà gặp sư là điều xui xẻo, không nên đi nữa. Có thể hiểu đây là sự đánh giá gay gắt của Ấn Độ giáo đối với Phật giáo.

Theo Bà la môn, họ xếp Sa môn vàohạng nghèo khổ đi khất thực để sống và tuviễn ly, tiêu cực, không dính líu gì đến cuộcđời. Trong khi Bà la môn là giới tu sĩ của Ấn Độ giáo thuộc dòng dõi cao quý và giàu sang nhất, đóng vai trò lãnh đạo trong xã hội.

Tư tưởng phân chia bốn giai cấp dành đặc quyền tối thượng cho giới Bà la môn đã ăn sâu vào nếp sống của dân tộc Ấn Độ từ lâu đời. Sự khinh rẻ giai cấp thấp trầm trọng đến mức độ họ cho rằng nhìn người giai cấp thấp làm bẩn mắt họ. Ý này thể hiện qua câu nói nhìn thấy sư là xui xẻo, nghĩa là họ xếp tu sĩPhật giáo vào thành phần hạ tiện.

Nhưng trong pháp hội này, công chúa 8 tuổi lại nhân đó đề cao tư cách siêu phàm của Đức Phật và Thánh chúng, khiến cho năm trăm Bà la môn phát Bồ đề tâm theo Phật đạo.

Ý này rất quan trọng, chúng ta phải suy nghĩ. Bà la môn xem nhẹ Sa môn; nhưng nếu Sa môn sống đúng nghĩa theo Phật dạy, chắc chắn sẽ tác động cho người phát tâm. Ngày nay, trên bước đường tu, chúng ta tự kiểmxem có xứng đáng cho người kính trọng haykhông. Nếu người hiểu lầm ta tầm thường, đến khihọ hiểu đúng, sẽ theo ta. Phật giáo thời xưa đã cho thấy như vậy. Trong lịch sử, thời kỳ Phật giáo suy đồi chỉ vì chư Tăng thiếu học vấn và đạo đức kém. Trái lại, giới tu sĩ xuất sắc hơn người đời, tất nhiên họ phải kính trọng. Có thể chúng ta xuất thân từ gia đình nghèo, không có tài sản. Tuy nhiên, người vẫn kínhtrọng ta; vì đạo đức và tri thức của chúng ta hơn họ.

Các Thầy Bà la môn hỏi công chúa tại sao biết được tính cách cao quý của Phật và Thánh chúng, trong khi chưa từng gặp các Ngài. Công chúa trả lời rằng được nghe chư Thiên ca ngợi Phật và Thánh chúng khi cô sanh ra được bảy ngày. Từ đó đến nay, cô luôn kính trọng Tam bảo. Điều này nhằm nói lên ý gì.

Đương nhiên Đức Phật cao siêu, người thường khó biết được. Người biết và kính trọngđược Phật là người đã trồng căn lành nhiều đời. Họ nghe được pháp Phật là nghe bằng căn lành phát lên từ thâm tâm, không phảinghe bên ngoài.

Phải biết chúng ta có căn lành với Phật pháp, ngày nay mới phát tâm Bồ đề. Và chúng ta tu từ Bồ đề tâm, trong lòng tự nhiên thương kính Phật, hiểu được thâm ý của Phật pháp. Cái thấy bằng căn lành khác với cái thấy theo người thường. Người thường thấy lợi hại, phải trái hơn thua và chỉ làm cái lợi, bị thua thì đau khổ.

Chúng ta vào đạo phát Bồ đề tâm thấycái chúng ta thua cuộc đời, nhưng cái đượcchúng ta lớn hơn nhiều. Riêng tôi, được Thầy Tri sự phân công rửa nhà cầu. Tôi thấy mình là người nhà quê, được giao công việc như vậy là bình thường; miễn sao tôi được học, được ở trong chúng, thì làm gì cũng được. Và cũng nhờ dọn rửa nhà cầu mà tôi mau hết nghiệp. Từ ý niệm đó,về sau tôi nghĩ thêm rằng tôi không làm lợi cho chùa thì sẽ nợ thêm, nên tôi nỗ lực làm công quả. Phát tâm làm do căn lành, nên công đức sanh ra; tôi được Thầy thương bạn mến, tôi không buồn giận, tự ái, gây gỗ. Trái lại, tu bằng nghiệp ác tham sân si, gặp điều mình không thích thì buồn, giận và khó chịu đến mức người không dung được ta, thì phải trả áo lại cho chùa.

Có căn lành và từ căn lành phát tâm tu học, làm cho chúng ta nhìn về nếp sống đạorất đẹp. Thấy con đường tu là vinh quang,chúng ta mới nhiệt tình dấn thân được. Thấy khổ cực, chông gai, không lợi ích gì, thì làm thế nào đi trọn đường tu. Có người nghĩ ở chùa tụng kinh, không được gì; họ lao ra đời học văn hóa một lúc rồi hoàn tục. Nhưng trải qua bốn mươi năm lao đao lận đận với miếng ăn, họ gặp tôi. Tôi nhận không ra vì thực sự trông họ thê thảm và họ cũng thú nhận rằng trước kia cứ tưởng hoàn tục như họ là đúng hơn, tốt hơn. Không ngờ tu như tôi thì tốt hơn!

Người thế gian thường nói có căn tu mới tu được, hay có căn lành là hột giống mới phát lên. Có căn lành mới khiến ta thích thú tụng kinh, tham Thiền, học pháp Phật;không phải bị bắt buộc. Có nghiệp ác thì dù mặc áo tu vẫn thích trò chơi ác, cho nên không thể tu.

Ý thứ hai được đề cập đến trong pháp hội này là vấn đề khất thực. Nếu khất thực là ôm bình bát đi xin để ăn và tìm gốc cây ngủ. Chỉ có vậy thì không khác ăn mày, cũng giống như năm trăm Bà la môn đã nói với công chúa rằng thấy Sa môn là xui xẻo.

Ngày nay chúng ta thấy sư giả cũng vậy, tất nhiên họ không phải là phước điền Tăng. Phước điền Tăng chỉ cho những vị tu hành có phước đức, mà đàn việt trông thấy hoặc biết đến, đều phát tâm cúng dường họ. Người cúng thường sanh tâm hoan hỷ, tăng trưởng công đức. Trong khi Sa môn không phước đức nghe chỗ nào có cúng thì tự ý tìm đến, làm cho tín chủ khó chịu, phải cúng bất đắc dĩ. Nếu hạng Sa môn này xuất hiện đông, đạo pháp chắc chắn bị suy yếu.

Sa môn phải tạo sự kính trọng; muốn như vậy, phải tự trọng hay làm được những việc đáng kính trọng. Ở đây tiêu biểu bằng tám vị Sa môn kiểu mẫu đi vào thành khất thực. Đức Phật dạy không vì đói, không vì ăn mà xin. Vì vậy, Sa môn khất thực khônggiống người ăn xin.

Đức Phật ở Lộc Uyển với năm anh em Kiều Trần Như, nhưng chỉ có Phật và Kiều Trần Như khất thực. Bốn người còn lại chưa hiện tướng giải thoát, nên Phật không cho phéphọ vào đời hiện tướng sân si. Họ phải nỗ lực tu để bản tâm trong sáng và hiện tướng giải thoát. Thân tâm trong sáng và giải thoát như vậy vào thành khất thực, người nhìn thấy mới phát tâm Bồ đề.

Kinh nghiệm tôi thấy ngài Ẩn Lâm là vị chân tu đáng kính trọng. Ngài có nguyện hành Đầu đà suốt đời. Hạnh đức của ngài đã khiến nhiều người phát tâm theo Phật giáo. Ngài đi khất thực với tâm hoàn toàn thanh tịnh, giải thoát.

Bước đầu, chúng ta học Tứ Thánh đế là khổ, nguyên nhân của khổ, Niết bàn và con đường dẫn đến Niết bàn. Đó là pháp Tứ Thánh đế nói cho người sanh diệt, chưa giải thoát. Vì vậy, trên thực tế, chúng ta thấy có người học Tứ Thánh đế vẫn không giải thoát. Vì họ còn nguyên tư chất của người ở trong sanh diệt nói chuyện sanh diệt; chưa phải là đạo.

Tiến lên, chúng ta học "Sanh diệt diệt thời tịch diệt vi lạc”. Nghĩa là học được bất tư nghì sanh diệt, học cái sanh diệt không thể giải thích được, không nói được pháp bất tư nghì này. Thí dụ, trên bước đường tu, thấy ai cũng giống nhau; nhưng có người được giải thoát, có người không giải thoát. Thậm chí thấy có người không tu, nhưng giải thoát; người không làm gì, nhưng được kính trọng; đó là pháp bất tư nghì. Điển hình như Xá Lợi Phất mới thấy Mã Thắng đã nhập quả vị Dự lưu. Mã Thắng theo Phật tu Tứ Thánh đế mới đắc La hán; trong khi Xá Lợi Phất chỉ trông thấy Phật là đắc La hán, thể hiện ý nghĩa của pháp bất tư nghì sanh diệt Tứ Thánh đế.

Xá Lợi Phất khất thực, nghĩ rằng làm thế nào cho người trong thành nhìn thấy ngài cũng ngộ pháp bất tư nghì sanh diệt Tứ Thánh đế, giống như khi ngài thấy Mã Thắng vàĐức Phật vậy. Ngài mang tâm niệm cao quý ấy trong lúc vào thành khất thực, muốn tặng cho cuộc đời những điều tốt đẹp như ngài đã được, tức ngài hướng đến mục tiêu làm cho người chứng Sơ quả và đắc La hán như ngài.

Kế đến, Mục Kiền Liên là vị La hán thần thông đệ nhất. Ngài cũng ngộ đạo một cách đơn giản và có khả năng vượt mọi chướngduyên trên bước đường hành đạo. Ngài vào thành khất thực cũng mang tâm niệm giúp cho người vượt khó và đạt giải thoát, làm được những Phật sự khó làm như ngài.

Vị thứ ba là Ca Diếp. Ngài không nghèo khổ và xả ly tất cả, mang tất cả tài sản bố thí cúng dường, thành tựu hạnh Đầu đà đệ nhất và chứng giải thoát. Ngài mong cho người trong thành Xá Vệ cũng có tâm hồn trong sáng và thanh thản như ngài. Không tiền bạc trong tay mà ngài hoàn toàn giải thoát, không bị lệ thuộc vào vật chất; trong khi họ có đủ thứ mà phải chịu mọi sự ràng buộc khổ đau.

Tóm lại, trên bước đường tu, tám vị Tỳ kheo đi khất thực nhằm mục tiêu mang sở đắc của họ đến cho người; tặng cho đời những tinh ba của Phật pháp mà họ đã thiết thân hành sử một cách tốt đẹp.

Pháp hội này đặt vấn đề là Tỳ kheo khất thực không vì ăn, nhưng để giáo hóa. Đức Phật và các đại đệ tử đều Thiền định trước khi vào làng khất thực. Thực sự Đức Phật không cần nhập định, lúc nào Ngài cũng biết và việc nào cũng biết. Các vị La hán thì có việc biết việc không, phải nhập định mới biết. La hán nhập định quán Nhân duyên của người ở trong thành và đến giáo hóa, nên không gặp trở ngại. Chúng ta ngày nay bắt chước, cũng ôm bình đi khất thực trong khi không hiểu và không có thực chất của một Tỳ kheo khất thực đúng pháp. Kinh Bảo Tích muốn nhắc nhở rằng vì ăn mà khất thực chắc chắn bị người đời xem thường, coi là ăn mày, gặp mặt là xui xẻo, nên họ bắt buộc cho để đi khuất mắt.

Kiều Trần Như đắc Thánh quả mới được Phật cho phép khất thực; vì chưa đắc đạo, chưa thấy được chỗ nên đến, việc nên làm. Kinh nói các Tỳ kheo nhập định để biết nên gặp ai, đi đâu, làm gì. Trả lời được câu hỏi này mới nên đi khất thực.

Trong kinh Bảo Tích nêu tám đại Thanh văn và tám đại Bồ tát có sở đắc riêng, tìm người có nhân duyên với họ để giáo hóa. Tìm người có nhân duyên nghĩa là tìm người cần cái của mình có. Thật vậy, Đức Phật nói với các Tỳ kheo nên dạy điều người cần, đừng dạy điều mình có. Quán Nhân duyên là xem cái ta có, ai cần thì mình cho. Họ không cần mà mang đến thì ai dùng. Trên đường hành đạo, chúng ta thấy rõ nhiều người tốt nghiệp trường lớp đàng hoàng, nhưng không làm được việc; vì cái người cần, lại không có.

Phải quán Nhân duyên và tùy theo đó giáo hóa. Không quán như vậy mà chỉ làm theo may rủi, dễ thất bại. Mỗi vị đại đệ tử của Đức Phật đều có tài năng riêng, chỉ đến giáo hóa nơi nào cần sự hiểu biết của họ. Nếu áp dụng không đúng chỗ, tài sẽ trở thành tai họa.

Ngài Tu Bồ Đề giảng pháp Không đệ nhất, chứng được Bát Nhã Ba la mật đa, thấy các pháp là Không. Ngài muốn nói pháp này, nên phải tìm người cũng đang nghiên cứu, đang mấp mé ở pháp này. Vì vậy, ngài Tu Bồ Đề tìm đến người trí thức, không đến chỗ người thường. Pháp mà ngài học, hiểu, tu chứng thì người thường làm sao hiểu được. Ngài chứng Bát Nhã Ba la mật, đốt sạch ngũ uẩn, thì phải lựa người chứng ngũ uẩn giai không mới nói được. Người còn bị cuộc sống vật chất bao vây nặng nề thì làm thế nào nghe được. Đối với người dư ăn dư để và đang hướng tinh thần về việc tìm nghĩa lý sâu xa của pháp Phật, mới dạy được. Tu Bồ Đề thấy rõ thật tướng các pháp, thấy những điều mà con người phải lo lắng, khổ đau là vô ích, họ chỉ tự làm khổ họ mà thôi. Thử hỏi đối với người còn đang bị khổ đau dày vò, làm sao nghe được pháp này.

Khi tu học ở Nhật Bản, tôi nhận ra ý của Tu Bồ Đề ngộ pháp Không, thấy những sự lo toan của người đời thực là vô lý. Thực sự yêu cầu của bản thân ta đâu cần nhiều mà phải hành hạ xác thân cực khổ vô ích, ăn ở có baonhiêu. Ngủ nơi nào qua đêm rồi cũng xong,ăn cũng vậy. Không cần nhiều thì cái lợitrước tiên là ta không lệ thuộc tín đồ. Phải nói ở Nhật, cuộc sống của tôi thật hẩm hiu, tự mình hạ thấp chi phí đến mức tối đa, mới còn thì giờ để tu học. Những người kẹt ăn mặc ở nhiều, tu học không thể lên cao. Họ phải lao động nhiều để có tiền chi và phải lệ thuộc người bảo trợ mình, thì không thể làm Thầy họ được.

Tu Bồ Đề khất thực nhằm giáo hóa chúng sanh. Người có cho hay không cũng được; ngài chỉ cần nêu gương tốt cho đời, nghĩa là giải pháp Không của ngài. Ngài vào làng khất thực mang tâm niệm tìm người có tâm như vậy để cởi mở sự ràng buộc vô lý cho họ, giúp họ được giải thoát như ngài.

Tinh thần Đại thừa gọi là tìm người đồng hạnh đồng nguyện để cùng nhau tu hành; không phải ai cũng độ được. Đức Phật cũng chỉ độ được người có duyên. Khác hạnh nguyện chẳng những không độ được, càng rắc rối phiền hà thêm. Chính vì vậy mà các vị Thánh Tăng độ ai cũng được. Ta đ