cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển V - Kinh Đại Bảo Tích - Tập 1


Phật Thích Ca dành một pháp hội Vô Lượng Thọ để giới thiệu về Phật Di Đà và nói rõ nhân hạnh quả đức của Ngài. Trong khi kinh Di Đà được coi là tiểu bản rút ngắn từ kinh Vô Lượng Thọ, chú trọng đến vấn đề niệm Phật vãng sanh là chính và chỉ giới thiệu phần quả đức của Phật Di Đà như thế nào và thế giới của Ngài mà thôi.

Vì chỉ căn cứ vào phần quả đức theo kinh Di Đà, nhiều người lầm tưởng rằng pháp môn Tịnh độ dạy chúng ta hướng về thế giới xa xăm, không thực tế, giống như các tôn giáo nhứt thần vinh danh Thượng đế trên trời, ký thác vận mạng con người cho Thượng đế, mà không biết vị này ra sao. Hoặc những người tiêu cực, yếm thế, thấy thế giới này bất công, khổ quá, nên muốn sinh về Cực lạc sướng hơn. Tư tưởng Tịnh độ theo cách tiêu cực này đã bị nhiều người phản đối, nhất là người theo Tịnh độ của Duy Ma hay theo Thiền.

Thiền tông căn cứ vào kinh Duy Ma để khẳng định rằng tâm tịnh thì thế giới trở thành thanh tịnh, hay y báo tùy thuộc chánh báo. Người có chánh báo không tốt, đến đâu cũng làm cho nơi đó trở thành xấu. Thí dụ giao dinh thự cho ăn mày ở, chắc chắn nơi đó không còn là tòa nhà cao sang nữa. Chúng sanh tạo tội ác đến đâu thì đau khổ đến đó. Trái lại, Bồ tát tu tạo công đức đến mức độ nào, sẽ có Tịnh độ tương xứng như vậy.

Trong kinh Duy Ma, Đức Phật dạy rằng Tịnh độ của Bồ tát là trực tâm, thâm tâm và Bồ đề tâm. Trực tâm là lòng thành thật, ngay thẳng, thâm tâm là tình thương đối với chúng sanh và Bồ đề tâm là trí sáng suốt. Thật vậy, nơi nào có người ngay thật, diệu hòa, có tình thương, nơi đó phải an lành. Nơi có người hung dữ, gian tham ở, thì địa ngục theo đó xuất hiện. Chúng ta thử sống thành thật, ngay thẳng sẽ thấy uy tín của mình theo tâm tốt ấy mà tăng lên và cuộc sống cũng được an lành theo. Tịnh độ hiện hữu một phần trong tâm sẽ thể hiện một phần kết quả tốt trong cuộc sống. Nếu tu được tâm từ và tâm bi, dùng tâm đó đối xử với người, thì người thương kính ta, là an lành hay Tịnh độ mở rộng đến đó. Tâm Bồ tát phát huy, tạo thành Tịnh độ của một người, hai người, bốn người, v.v... Trong Phật giáo thường quy định bốn người trở lên sống chung tạo thành tập thể Tăng già thanh tịnh, hòa hợp. Hành đạo, mang tình thương cho người và vì quyền lợi của người, thể hiện tinh thần vị tha vô ngã; đó là Tịnh độ thứ hai của Bồ tát và Bồ tát quyến thuộc.

Ngoài ra, Bồ đề tâm cũng là Tịnh độ của Bồ tát, vì không có trí giác là tâm sáng suốt, sẽ khó điều chỉnh được trực tâm và thâm tâm.vậy, đạo Phật chọn trí tuệ là chính để sử dụng đúng đắn hai tâm trước hay tất cả tâm khác. Chư Phật đều có Vô thượng Bồ đề là trí giác cao nhất. Có Bồ đề tâm mới có Tịnh độ.

Trí thông minh khác với trí hiểu biết theo học thức. Có học thức, vì chúng ta tiếp nhận tất cả dữ kiện, kinh nghiệm của người khác làm hiểu biết cho chúng ta. Nói cách khác, chúng ta biết nhiều việc của người khiến chúng ta sinh phiền não; cái biết như vậy được gọi là phiền não trí, càng biết càng phiền não thêm.

Trí tuệ theo Phật do tu, do trực giác, do tập trung tư tưởng mà sinh ra; không phải do học mà biết. Tu Thiền, tập trung tư tưởng, nên phát sanh huệ, nhìn sự vật chính xác; tâm tán loạn không thể có nhận thức đúng đắn. Huệ này cũng do văn, tư, tu, nhưng do ứng dụng trong Thiền quán mới có.

Trước tiên, có Túc mạng minh hay Túc mạng huệ là chúng ta tự biết mình và những người xung quanh. Hôm nay ta là giảng sư hay trụ trì, thì biết đời trước ta đã từng làm việc này, nên hiện đời thấy thích và làm tốt công việc ấy dễ dàng. Chúng ta cũng biết được túc mạng của người, biết mối quan hệ giữa ta và họ, biết đời trước đã từng giúp hay hại họ hoặc chưa quen biết với họ. Biết như vậy, chúng ta hành đạo, tìm đến người có nhân duyên oán hay thân, để tùy theo đó mà làm cho mối quan hệ tốt tăng lên, hay xóa đi mối quan hệ xấu của đời trước. Người tu biết túc mạng sẽ hành sử như thế, lần hồi người tốt với ta sẽ tốt thêm và người xấu sẽ hết xấu. Còn gặp người xấu, ta bỏ là đoạn mất duyên; gặp người tốt, ta khai thác cạn kiệt thì cũng mất trắng. Biết túc mạng thì quyến thuộc Bồ đề đông thêm.

Kế đến, chứng Thiên nhãn minh là thấy xa hiểu rộng. Hiểu rộng cả Pháp giới là hiểu tất cả ngành nghề; thấy xa là thấy việc sẽ xảy ra mười năm, hai mươi năm sau, cho đến nhiều kiếp sau. Thấy trước diễn tiến của sự việc, nên dễ dàng kham nhẫn, chịu đựng. Tôi thuyết pháp trong hai mươi năm không trở ngại, vì chỉ đến nơi nào thuyết pháp được và lúc nào giảng được. Thấy từng chỗ, từng lúc để làm đạo, đạt kết quả tốt mà không tốn công nhọc sức và được an lạc. Thực tế cho thấy những vị đắc đạo, nhưng không làm đạo, vì thấy cơ duyên chưa đến. Nhưng cơ duyên đến mà không làm, sẽ bỏ mất cơ hội ngàn năm một thuở; trái lại, cần ẩn tu mà không ẩn sẽ gặp tai họa.

Bồ đề tâm giúp người tu thấy xa hiểu rộng cả toàn cầu, mỗi quốc gia có luật pháp, phong tục riêng. Khi nào anh em tu đắc đạo, trí tuệ sinh ra sẽ hiểu việc này. Tuy nhiên, chưa đắc đạo, chúng ta có thể nghiên cứu về dân tộc, luật pháp, chế độ, v.v… của một quốc gia nào đó, cũng biết được sinh hoạt của họ.

Nói đơn giản, có trí tuệ thì có Tịnh độ; thiếu trí tuệ chỉ chuốc lấy sự bực bội, buồn phiền dẫn đến làm loạn, sẽ bị tù tội, không thể khác. Có trí tuệ, biết được cách sống thích hợp; ở thành phố sống theo thành phố, ở cao nguyên sống theo cao nguyên. Biết thì ở đâu cũng an lành. Tu đến đâu, Tịnh độ xuất hiện đến đó.

Sử dụng trí tuệ để xây dựng hai mặt. Thứ nhất là khai thác về nhân tâm, chỉ cho xã hội và con người. Môn Duy Thức đã phân tích cho chúng ta thấy có bao nhiêu phiền não và thiện tâm sở; đó là tâm thức của con người để chúng ta khai thác. Nếu là ác ma, hay thực tế là những nhà hoạt đầu chính trị, thường dùng thủ đoạn bằng cách kích động tánh nóng của người, khiến người gây rối loạn cho họ hưởng lợi. Trái lại, theo Phật, chúng ta khai thác nhân tâm cách khác. Thấy mọi người đều có thiện tâm sở, chúng ta khai thác mặt tốt này để họ trở thành Bồ đề quyến thuộc, để xây dựng xã hội tình người.

Và có người quý mến rồi, chúng ta khai thác mảng tự nhiên là tài nguyên thiên nhiên cũng rất quan trọng. Vì có của báu, nhưng thiếu sự hiểu biết, thì không khai thác được; ví như nằm trên đống vàng mà chết đói. Sử dụng trí tuệ vào việc khai thác tài nguyên tự nhiên, để xây dựng cho dân giàu nước mạnh. Kinh Bảo Tích cũng cho thấy rất rõ Đức Phật Di Đà đã khai thác nhân tâm và môi trường thiên nhiên vô cùng khéo léo để xây dựng thế giới Cực lạc của Ngài. Chúng tôi sẽ đề cập ý này ở phần sau.

Trở lại pháp môn Tịnh độ, lâu nay chúng ta chịu ảnh hưởng sai lầm lớn của một số người đi trước. Họ chủ trương xây dựng thế giới Cực lạc ở phương Tây và minh họa cuộc sống hiện tại của chúng ta đáng chán, đáng bỏ để đưa mọi người đến Tây phương Cực lạc. Như vậy, h