cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển V - Kinh Đại Bảo Tích - Tập 1


Trong pháp hội này nêu lên câu chuyện rằng chư đại Thanh văn đắp y mang bát vào thành Vương Xá để khất thực. Khi các vị nàyđến trước cung điện của vua A Xà Thế thì công chúa Vô Úy Đức là con gái của vua vẫn ngồi yên, không đứng lên nghinhtiếp. Nhà vua thấy lạ mới hỏi công chúa rằng tại sao không thi lễ. Cô bé hỏi lại vua cha rằngbao giờ Chuyển luân Thánh vương nghinh tiếp tiểu vương hay không, có bao giờ phụ vương thi lễ người nghèo trong thành hay không, v.v… Cũng vậy, Bồ tát thì không lễ bái Nhị thừa …

Chúng ta nghĩ thế nào về vấn đề Bồ tát không kính lễ hàng Nhị thừa do cô bé Vô Úy Đức 12 tuổi nêu lên.

Vua A Xà Thế hỏi lại Vô Úy Đức rằng Bồ tát kính lễ tất cả chúng sanh mà lại không lễ Nhị thừa là ý gì. Chúng ta thấy điều này trái với giáo lý Nguyên thủy. Nguyên thủy phân định vị trí của bậc Sa môn xuất gia là trên hết, ai cũng phải kính lễ họ và họ không cần kính lễ bất cứ ai, kể cả quốc vương.

Để hiểu rõ vấn đề này, theo tinh thần Đại thừa, chúng ta cần nhắc lại sự phân biệt bốn hạng Thanh văn. Cao quý nhất là thịhiện Thanh văn. Họ thực sự là Bồ tát,nhưng hiện thân làm Sa môn để giáo hóa hàng Thanh văn. Chúng ta thấy các nhà lãnh đạo Phật giáo nổi danh và thành tựu nhiều việc lớn, phải biết họ mang hình thức Thanh văn, nhưng bên trong là tâm Bồ tát. Có thể nói họ thuộc hàng thị hiện Thanh văn, vì có phước đức trí tuệ đầy đủ. Nếu không mặc chiếc áo xuất gia, họ vẫn thừa sức làm những việc lớn lao trong xã hội. Họ xuất gia vì nhận chân được đời sống của đạo cao quý hơn là sống theo thế tục. Họ không phải vì nghèo đói hay thua cuộc màxuất gia. Điển hình cho mẫu người thị hiện Thanh văn là Đức Phật với phước đức và trí tuệ không ai thể sánh bằng. Ngài đủ tư cách làm Chuyển luân Thánh vương, nhưng khoác áo Sa môn để cứu độ tầng lớp người này rất đông đảo thời bấy giờ. Ngài làm Sa môn nghèo, không tài sản, không một tấc sắt trong tay; nhưng cảm hóa được mọi người kính phục, quy ngưỡng bằng phước đức và trí tuệ.

Bồ tát thị hiện vào sống với chúng Thanh văn yếm thế, để độ họ. Vì Bồ tát không có hình cố định; cần thân hình nào làm lợi cho đạo, họ hiện thân đó.

Thứ hai là thoái chuyển Thanh văn. Người đời thường nói rằng thành công thì làm quan, thất bại thì làm sư. Trong lịch sử chúng ta thấy Hòa thượng Phi Lai hay Tổ Thiên Thai làm cách mạng thất bại. Các ngài vào chùa ẩn nấp, sau đó tu hành trở thành Tổ sư. Phải nói đó là giới trí thức hay những vị lỗi lạc muốn làm đại sự. Mộng lớn không thành, họ trở về nếp sống tự lợi, lấy giải thoát làm chính. Họ phát huy được trí tuệ theo Phật, đủ tư cách làm Thầy chỉ đạo cho người, cũng là biểu tượng đáng kính trọng.

Hàng Thú tịch Thanh văn tu hành thành tâm thành ý cũng tốt. "Thú” nghĩa là hướng về; họ chỉ hướng đến Niết bàn, không nghĩ đến cuộc đời, không muốn phục vụ người, không có ý thức tái sanh. Vì còn nghĩ, còn làm là còn vọng tâm, phải thọ sanh tử luân hồi. Họ phải cắt đưt mọi việc để tâm không sanh khởi, lòng hoàn toàn nguội lạnh.

Thứ tư làtăng thượng mạn Thanhvăn nói nhiều nhưng không làm được gì, tự cho mình là Thánh.

Vô Úy Đức nói rằng cô không lễ Thanh văn, tạo thành duyên khởi cho sự đối đáp giữa vua A Xà Thế và cô để nói lên thâm ý của Đại thừa. Vô Úy Đức nói rõ lý do không đảnh lễ hàng Thanh văn. Nếu thân cận Thanh văn tất nhiên sẽ phát tâm Thanh văn; thân cận Duyên giác sẽ phát tâm Duyên giác; gần gũi Bồ tát thì tất yếu sẽ phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Qua ý này, theo tinh thần Đại thừa, chúng ta cần cân nhắc. Đương nhiên, đối với hàng Bồ tát thị hiện Thanh văn, chúng ta phải kính lễ. Tuy nhiên, đối với hai hạng thú tịch Thanh văn và tăng thượng mạn Thanh văn, chúng ta e ngại sẽ chịu ảnh hưởng không tốt của họ.

Đối với hạng tăng thượng mạn nói khoác, không làm, ta nên tránh. Họ thuộc loại tặc tâm xuất gia, nay mặc áo tu, mai hoàn tục, mốt có thể đi tù. Ngày nay gọi đó là tu sĩ giả. Họ chỉ mượn hình thức tu để lừa dối người, thủ lợi cho họ và sẵn sàng làm những việc tệ ác. Trong kinh có nói đến hạng này qua thí dụ tên thợ săn muốn bắn kim mao sư tử, mới khoác vào chiếc áo Sa môn để sư tử tin tưởng, mới có thể đến gần mà sát hại nó. Nếu ta cung kính cúng dường hạng tu sĩ giả là đã tòng phạm với tội ác của họ, ta học với họ là học sự lừa đảo. Cần biết rõ những sự tác hại tội lỗi ấy để ta không mắc lừa kẻ xấu ác và phạm tội phá hại đạo.

Đối với hạng Thú tịch Thanh văn, ta có nên cúng dường hay không. Điều đó còn tùy thuộc ở căn tánh của ta. Nếu ta có ý hướng về Vô dư Niết bàn giống họ, thì ta cúng. Trái lại, chúng ta hành Bồ tát đạo thì nên tránh, vì tư tưởng của ta và họ hoàn toàn trái ngược nhau.

Thuở sơ tâm học đạo, tôi thân cận các Hòa thượng mang tâm niệm không nghĩ đến cuộc đời. Tôi cũng chịu ảnh hưởng ấy và cứ mong hết kiếp này để lên Niết bàn. Thậm chí có vị tôi theo lúc nhỏ, cỏ mọc ngập tường chùa, ông cũng mặc nó. Ông nói rằng Phật dạy không được giết hại sự sống. Chúng ta thấy ý này hoàn toàn thánh thiện, nhưng nếu cứ tu theo cách đó, chắc chắn Phật giáo khó tồn tại. Thử nghĩ tất cả người tu không có ý thức bảo vệ chùa, xây dựng đạo, thì làm thế nào Phật pháp trường tồn. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ đã từng chứng minh điều này, từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ XXII, Phật giáo Ấn hoàn toàn bị tiêu diệt. Ấn Độ giáo nổi dậy thẳng tay giết sạch các nhà sư và phá sạch các ngôi chùa. Trường Nalanda thời đó có trên mười ngan nghiên cứu sinh, quả thực lớn biết bao, cũng chỉ còn là đống gạch vụn. Sư sẵn sàng ngồi yên cho ngoại đạo giết chết thì làm thế nào đạo pháp sống ni.

Công chúa Vô Úy Đức muốn nói với vua A Xà Thế ý này. Nếu vua cha theo học đạo với Thanh văn, sẽ mang tâm hồn yếm thế, thì đất nước sẽ ra sao, ngôi vua sẽ như thế nào. Cuộc sống tách ly khỏi cuộc đời của Thanh văn không thể nào phù hợp với ý thức xây dựng xã hội phát triển tốt đẹp được. Có thể nói chúng ta trân trọng hàng Thú tịch Thanh văn, nhưng không nên thân cận; vì sẽ bị ảnh hưởng chán đời, buông trôi mọi việc theo họ.

Duy có hai hạng là Thanh văn thị hiện và thoái chuyển Thanh văn thì làm được nhiều việc lợi ích cho đời, ta cần thân cận cúng dường, lễ bái; vì họ có khả năng truyền bá giáo pháp của Phật. Riêng đối với hạng thoái chuyển Thanh văn có ý chí lớn, nhưng không được người ủng hộ, nên họ nản lòng. Chúng ta nên giúp đỡ họ lên tinh thần để dấn thân hành Bồ tát đạo. Điều này dễ hiểu, thực tế có người hợp tác, chúng ta hăng hái làm hết lòng. Không có người hỗ trợ, chúng ta thấy sức mình yếu kém, cứ thu hẹp việc lại. Tôi có kinh nghiệm này, nếu không được các Hòa thượng ủng hộ, tiếp sức, một mình tôi không gánh vác nổi Phật sự. Chính vì vậy, Đức Phật đã giao trách nhiệm truyền bá đạo pháp cho hai chúng xuất gia và hai chúng tại gia có bổn phận giúp đỡ việc phát triển đạo pháp.

Trong ba pháp hội là Diệu Huệ đồng nữ, Hằng Hà Thượng Ưu bà di và Vô Úy Đức Bồ tát, Đức Phật đưa ra mẫu người thuộc nữ giới đã từng trồng căn lành ở vô lượng Phật quá khứ và chứng quả. Kinh nói về thành quả tu chứng của nữ giới nhằm mục đích gì, trong khi thực tế hành đạo cho chúng ta thấy nam giới có nhiều lợi điểm hơn. Thí dụ để thỉnh tu sĩ tụng kinh cầu nguyện hay thuyết pháp, hàng tín đồ vẫn chọn chư Tăng hơn là Ni.

Có thể khẳng định trong ba pháp hội liên tiếp nói trên, Đức Phật cho ba vị đồng nữ đăng tràng để xác định một việc rất quan trọng trên bước đường tu theo Đại thừa, đó là phát Bồ đề tâm.

Vô Úy Đức đồng nữ nói với vua cha AThế rằng Bồ tát không lễ bái hàng Thanh văn, cũng như tiểu vương không kính lễ Chuyển luân Thánh vương. Cô bé 8 tuổi mà biết như vậy không phải là người tầm thường. Lập trường của Vô Úy Đức thể hiện rõ nét tinh thần Đại thừa, đặt nặng vấn đề phát Bồ đề tâm. Bồ tát mới phát Bồ đề tâm đã hơn hẳn Thanh văn, vì tầm nhìn thoáng rộng hơn, trí tuệ đã được khai mở.

Bồ tát chỉ lễ bái Như Lai để tiến tu, vì có huệ Như Lai mới thông suốt Pháp giới. Thật vậy, với huệ Như Lai, Đức Phật hiểu rõ tận cội nguồn mọi phiền não của chúng sanh. Bồ tát phát Bồ đề tâm là học huệ vô thượng ấy của Như Lai, không an trú pháp Thanh văn; nên không bị kẹt trong pháp sở đắc. Trong khi Thanh văn không hiểu được đẳng phần phiền não của chúng sanh, nên không thể cứu độ họ, không thể giải quyết đúng mọi vấn đề.

Và Thanh văn còn kẹt pháp sở đắc, chỉ thấy hạn hẹp trong phạm vi của mình, không thể thấy những khía cạnh khác. Bồ tát chứng vô sở đắc trí, nghĩa là không vướng mắc vào thành quả đã được. Tâm trí Bồ tát ví như tấm gương, việc gì hiện ra thì biết việc đó, việc không có thì tất nhiên Bồ tát chẳng quan tâm. Chính vì thấy biết đúng như thật tùy theo sự diễn tiến sống thực của đối tượng, nên Bồ tát tùy thuận được chúng sanh, giáo hóa được họ. Đó là ý chính mà Vô Úy Đức khen ngợi pháp Bồ tát thù thắng hơn Thanh văn.

Vua A Xà Thế hỏi Vô Úy Đức rằng Đức Phật đã dạy Bồ tát không ngã mạn, đảnh lễ tất cả chúng sanh. Tại sao nay lại không đảnh lễ Thanh văn. Theo Vô Úy Đức Bồ tát, đảnh lễ chúng sanh nghĩa là làm cho họ phát tâm Bồ đề. Nhưng Thanh văn kẹt pháp hướng về Niết bàn, không thể nào phát tâm Bồ đề; nên không đảnh lễ họ.

Pháp căn bản của Bồ tát là Bồ đề tâm. Tu trên Bồ đề tâm khác với tu theo hình thức, gắng gượng làm những việc mà chùa sắp sẵn. Vì bắt buộc làm những việc lòng không muốn, không phải thực tu, nên tu một lúc, phiền não nghiệp chướng trần lao sanh khởi và phát triển.

Ngược lại, người phát Bồ đề tâm tu học và làm việc trong niềm hoan hỷ. Do phát tâm tu, họ cố gắng làm những gì có thể được. Ngoài thì giờ tu học của chùa quy định, họ thấy như vậy chưa đủ, nên tự đặt thêm thời khóa tu học và dành thêm thì giờ để công quả cho chùa. Tôi thấy một số người không thích tụng niệm, lý luận rằng tụng hai thời kinh của chùa không còn thì giờ học và đòi hỏi chỉ tụng một thời thôi!

Bản thân tôi khi còn là học Tăng vẫn tụng thời kinh tối và sáng sớm công phu với chúng, tôi thấy lòng yên hơn. Tôi phát hiện ra rằng thời kinh tối giúp tôi tẩy sạch trần nghiệp, buồn phiền trong ngày. Dùng Phật pháp để rửa tâm và đi vào giấc ngủ như vậy, tôi cảm thấy an lành. Thời công phu sáng sớm thức dậy để đem pháp dằn lên tâm thì làm việc thấy tốthơn. Hai thời kinh này tự lấp kín khoảng trống lòng mình, giúp cho Phật pháp tồn tại trong tâm. Tôi thấy như vậy chưa đủ, nênthường thọ trì thêm các bộ kinh Đại thừa khi có thì giờ; thay vì tán gẫu, sẽ sanh chuyện rắc rối.

Phát được Bồ đề tâm, kinh điển là nguồn sống thích thú; không phát tâm Bồ đề thì thích đọc tiểu thuyết hơn, hấp dẫn họhơn. Phát tâm Bồ đề, không thích đọc những gì củangười đời không đắc đạo; vì nó làm chúng ta động tâm nhiều hơn, khơi dậy tâm trần tục nhiều hơn. Trong khi kinh điển Đại thừa mở ra cho chúng ta cách sống, cách nhìn tốt đẹp và theo đó chúng ta được an lạc giải thoát thực sự. Đó là một vài điểm khác biệt giữa người phát tâm và không phát tâm Bồ đề.

Bồ tát phát tâm Bồ đề, từ đó triển khai thành những việc làm khác nhau, gọi là Bồ tát đa hạnh, không căn cứ trên hình thức. Vì vậy, người phát Bồ đề tâm, hành Bồ tát hạnh, xuất hiện trên cuộc đời với tất cả hình thức để làm đạo; không phải họ bị kẹt trong khuôn mẫu cố định. Điển hình như Bồ tát Quan Âm cần hiện than Tỳ kheo để độ người thì ngài làm Tỳ kheo; cần làm đồng nữ thì vẫn làm đồng nữ; thậm chí Bồ tát có thể ứng hiện thân Dạ xoa, La sát. Như vậy, cốt lõi bên trong là Bồ đề tâm và tùy theo yêu cầu bên ngoài mà Bồ tát hiện thân nào đó để làm việc có lợi ích hơn cho người.

Hòa thượng Trí Tịnh nhắc tôi rằng ngài sợ chứng trai, vì biết đâu có người tín chủ quỳ lạy, cúng dường nhằm mục tiêu duy trì thế gian tướng thường trụ Tam bảo; trong khi đức hạnh và trí tuệ của họ lại hơn mình. Hòa thượng đức độ lớn mà còn e ngại không xứng đáng, sợ bị tổn phước đức, không dám để cho người khác quỳ lạy; huống chi là chúng ta phước đức mỏng manh. Thiết nghĩ Bồ tát Tăng thì sợ người cung kính cúng dường, còn ham được như vậy là phàm phu Tăng.

Vì muốn cho Tam bảo cửu trụ, Bồ tát cúng dường lễ lạy chư Tăng. Thử nghĩ thực sự người tu có xứng đáng như vậy hay không. Đó là vấn đề mà đồng nữ Vô Úy Đức nêu lên. Ý này thể hiện rõ nét trên thực tế, tôi thấy Hội Phật học xưa kia đa số hội viên là người trí thức. Họ mặc áo tràng lễ lạy chư Tăng một cách thành kính. Luc ấy tôi mới 20 tuổi, thực sự không xứng đang cho họ lễ lạy. Quả thực họ uyên thâm Phật pháp hơn tôi, đã trường chay, dịch kinh điển, không phải tầm thường, lại có địa vị cao trong xã hội như cụ Mai Thọ Truyền. Rõ ràng là họ muốn giữ gìn hình thức Tam bảo tồn tại mà thể hiện sự tôn kính cúng dường giới xuất gia.

Cách nhìn thứ hai theo đồng nữ Vô Úy Đức là khi thân cận cúng dường người nào, chúng ta chịu ảnh hưởng người đó. Nói theo ngày nay là "Thầy nào trò đó”. Thân cận vị Thầy mang tư tưởng yếm thế, ta chán đời theo. Gần gũi và cúng dường vị Bồ tát Tăng phát tâm Đại thừa, hành Bồ tát đạo, ta cũng sẽ có tâm niệm và việc làm giống như vậy; vì họ chắp cánh cho ta thăng hoa cuộc sống.

Theo Đại thừa tuy biết cuộc đời là giả tạm, nhưng chúng ta phải làm gì cho người, phải làm cho Phật pháp cửu trụ trước khi chúng ta từ giã cõi tạm bợ này. Vì nếu chấp vào giả tạm thì ta khổ đau, còn chán bỏ giả tạm thì tương lai đạo pháp sẽ ra sao.

Có thể khẳng định rằng chư vị Bồ tát hành đạo nhận thấy có Thánh Tăng ra đời, các ngài hiện thân làm vua chúa đóng vai trò hộ đạo, để Phật pháp cửu trụ. Nếu trong hàng Tăng sĩ có nhiều người yếm thế, Bồ tát e ngại sự ảnh hưởng không tốt của họ làm cho người khác bị lạc đạo, thì Bồ tát xuất gia học đạo để tuyên dương chánh pháp.

Vì vậy, đối với đạo hạnh, Bồ tát thường hiện thân tự tại, đóng đủ thứ vai trên sân khấu cuộc đời. Nơi nào thiếu thì Bồ tát hy sinh, vào làm việc đó; việc nào có đủ người thì thôi. Nếu chỉ có Tỳ kheo tu hành chán đời mà chúng ta lại đóng vai hộ đạo là đã hộ đạo yếm thế rồi. Có nhiều Pháp sư lỗi lạc, nhiều vị tu hành chân chánh, tất yếu chúng ta phải lo hỗ trợ tứ sự cúng dường cho họ. Nếu cứ thêm người xuất gia thì ai gánh vác công việc hộ đạo. Hoặc chỉ toàn là cư sĩ, ai sẽ làm Tăng sĩ quảng tuyên chánh pháp.

Qua ba pháp hội liên tiếp này cho thấy hình thức không quan trọng đối với Bồ tát. Trên bước đường tu, Bồ tát có thể làm đồng nam, đồng nữ, hay Tăng Ni. Bồ táttùy duyên ứng hiện, không nhứt thiết xuấtgia hay tại gia. Xuất gia làm được nhiều việc lợi cho đạo thì xuất gia; nếu ở tại gia thuận lợi cho việc tu hơn thì hãy đóng vai cư sĩ.

Sau khi giải thích lý do không đảnh lễ Thanh văn, công chúa Vô Úy Đức mới kính lễ cúng dường chư Tăng và hỏi thêm rằng tại sao họ không nghe Đức Phật thuyết pháp rồi hãy đi khất thực.

Câu hỏi này gợi ý rằng phải nghe Phật thuyết pháp, việc làm mới không trở ngại. Có Phật tại thế chúng ta bạch Phật, hoặc có vị A xà lê chúng ta cũng thỉnh ý được. Nhưng không có Phật hoặc Thầy, chúng ta hỏi ai. Theo tôi, chúng ta nên nghe theo Phật huệ. Mỗi sáng, tôi thường suy nghĩ, để tâm mình nghe Phật qua pháp, nghe Phật trong tâm của chính mình. Nói cách khác, cân nhắc việc mình làm, nên làm gì, đến đâu và người mà ta tiếp xúc thế nào, việc nơi đó sẽ ra sao. Khi đến đó hành đạo, chúng ta xem việc xảy ra có giống như điều chúng ta suy nghĩ hay không. Nếu dự đoán giống được thực tếkhoảng 60% là biết chúng ta đã phát sanh huệ. Ý này gọi là quán Nhân duyên. Phật dạy rằng thấy nhân duyên là thấy pháp thì khởi tu mới không thất bại; đừng nhắm mắt làm càn.

Trong kinh Nguyên thủy cũng nói rằng buổi sáng, Đức Phật ngồi Thiền, không phải ngồi như củi mục; nhưng Ngài ngồi quán Nhân duyên. Ngài quán sát thấy người nào thuần thục thì đến giáo hóa; chưa thuần thục thì Ngài chờ đủ duyên. Người thuần thục nghĩa là duyên đã chín muồi, họ trông ta đến để cúng dường. Tuy nhiên, có nên đến hay không là điều quan trọng.

Chúng ta đến và nhận sự cúng dường, nhưng không làm được gì lợi ích cho họ, không khéo làm cho tâm Bồ đề của họ chết mất, ý thức muốn cúng của họ coi như hết. Trường hợp ta nhận của cúng dường và họ nhận được sự an lạc trong cuộc sống, thì niềm tin của họ tăng lên. Nhân duyên giáo hóa thuần thục nên họ đã phát tâm Bồ đề và chúng ta đến để nuôi tâm Bồ đề này lớn lên. Thiết nghĩ trên bước đường hành đạo, chúng ta nhận sự cúng dường chỉ vì tâm đại bi. Nhận để tiêu dùng cho cá nhân là làm chết tâm Bồ đề của hàng tín thí. Không nhận sự cúng dường để tâm khát ngưỡng của họ còn; kiếp này chưa cúng, họ còn giữ tâm đó để đời sau cúng. Đó là ý chính mà tôi muốn nhắc nhở anh em.

Công chúa đảnh lễ, cúng dường xong, cùng với vua cha và hoàng hậu lên núi Kỳ Xà Quật nghe Phật thuyết pháp. Ý này nhắc khéo Thanh văn rằng người đời lo toan bao việc mà còn dành thì giờ tu học. Thanh văn ở gần Phật lại không chịu tu học, quả thực là uổng phí.Thực tế chúng ta thấy rõ điều này. Rất nhiều cư sĩ làm việc cực khổ suốt ngày, họ cũng cố gắng ghé vào chùa lễ Phật, tụng kinh,dùng Phật pháp sưởi ấm tâm hồn. Sa môn ở chùa suốt ngày thì lại chán, không thích kinh kệ.

Công chúa Vô Úy Đức nói lên nhữngđiều ưu việt của Bồ tát mới phát tâm Bồ đề đã hơn hẳn hàng Thanh văn. Để minh chứng những sở đắc siêu tuyệt của Bồ tát, Vô Úy Đức thệ nguyện rằng Đức Phóng Hương Quang Minh Như Lai hiện thân nơi đây và khiến cho hàng Thanh văn, Duyên giác thấy thế giới Hương Tượng, ngửi mùi cây hương chiên đàn thượng diệu. Và mọi viec xảy ra quả đúng như lời ngài nguyện.