cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển V - Kinh Đại Bảo Tích - Tập 1


Theo Nam và Bắc truyền Phật giáo, Bồ tát Di Lặc được thọ ký thành Phật, thừa kế sự nghiệp của Đức Phật Thích Ca. Chúng ta học với Di Lặc để biết rõ công việc của người thừa kế sự nghiệp Phật Thích Ca như thế nào mới có thể bảo vệ được chánh pháp tồn tại.

Bảo vệ chánh pháp liên hệ mật thiết với bảo vệ Tăng đoàn và Giáo hội. Nếu bỏ quên việc bảo vệ Tăng đoàn và Giáo hội, chúng ta vô tình tạo tội phá pháp. Thật vậy, nếu khai thác lỗi của chư Tăng, làm cho Tăng đoàn trở thành mâu thuẫn, dẫn đến hậu quả Phật pháp bị suy đồi. Chúng ta tưởng rằng mình bảo vệ chánh pháp, nhưng thực sự đã phá hỏng sự hòa hợp của Tăng đoàn.

Theo tinh thần Đại thừa, phạm Phật thì Tăng cứu được; nhưng phạm Tăng, Phật không cứu. Cần suy nghĩ làm cách nào xây dựng Tăng đoàn, mà không phạm tội phá Tăng. Phật dạy Bồ tát phải có trí tuệ, thấy lỗi nào nên nói, điều sai trái nào chúng ta không nên nói. Vì nói ra gây tác hại nhiều hơn là lợi. Phật ví rằng đừng đem đồ ô uế bỏ vào dòng nước trong, ngầm chỉ tội phá Tăng. Rõ ràng là trên cuộc đời này không ai có thể tốt đẹp hoàn toàn, làm thế nào không phạm lỗi lầm. Nếu ta là học Tăng mà tìm sự sơ suất của vị Hiệu trưởng để chỉ trích, làm cho ngài mất uy tín, chắc chắn ta cũng tự hại mình thôi. Thử nghĩ nếu vị Thầy xấu thì ta còn tệ hại đến đâu. Trong trường hợp này, im lặng vẫn tốt hơn, vì bảo vệ được sự hòa hợp Tăng và chánh pháp.

Phẩm này nêu lên cái nhìn của Bồ tát Di Lặc đối với Tăng đoàn gồm năm trăm vị Bồ tát Tăng. Họ ở trong nhà Phật pháp, nhưng không thể phát huy nếp sống đạo hạnh, không tìm được sự an lành. Chúng ta phải nhận ra ý này để tiến tu. Thực tếchúng ta thấy có người muốn tu, nhưng không tu được, vì thiếu nhân lành và nhiều ác nghiệp. Kinh Pháp Hoa cũng dạy muốn tu phải có bốn điều kiện, trong đó điều kiện thứ nhất cũng là nhân lành.

Thiếu nhân lành mà tu sẽ thành nhất xiển đề, điều này chúng ta cần suy nghĩ. Người tu trở thành nhất xiển đề vì không phát sanh trí tuệ, không nhận được sự lợi ích của Phật pháp trong cuộc sống và thường làm những việc không tốt. Nếu chúng ta bảo vệ chánh pháp, chỉ trích họ. Tất nhiên họ phản ứng ác lại với ta, từ đó gây ra sự đấu tranh trong Tăng đoàn, không phải là bảo vệ chánh pháp.

Sự thật lịch sử năm 1963 đã cho thấyđiều này. Các hệ phái của chúng ta tự nhiên chống báng nhau kịch liệt, cố bươi móc lỗi lầm của nhau, để cuối cùng người ngoài nhìn vô, thấy đệ tử Phật không ai tốt cả. Thật là chua xót! Nếu hạ bệ lãnh đạo của mình, tự đánh trốc gốc, thì cành lá cũng phải héo úa theo.

Năm trăm vị trong pháp hội này nói với Di Lặc Bồ tát rằng họ ở trong chánh pháp tu, nhưng không kết quả, không thích đọc tụng kinh điển, lễ bái, tham Thiền. Họ chỉ thích hợp với chuyện thế gian, thích tập hợp bàn chuyện thế sự, làm ăn. Tâm sự của năm trăm Tỳ kheo này cũng là những việc có thật mà tôi thường gặp trong Tăng đoàn. Họ thích đọc tiểu thuyết nhảm nhí hơn, thích hùn hạp kinh doanh hơn. Tu như vậy, khó ở lâu trong đạo hay còn sống trong đạo, cũng khó được quý trọng dù có nhiều tiền của, chùa lớn. Theo tôi, không dám xem thường họ, nhưng cố tìm cho mình hướng đi, không để lạc vô đường này.

Di Lặc Bồ tát khuyên họ đến thỉnh ý Phật dạy tìm cách nào để tu được. Di Lặc khuyên, nhưng trong chúng năm trăm người, chỉ có sáu mươi Bồ tát cùng với Di Lặc đến Phật. Điều này gợi cho chúng ta suy nghĩ thêm. Người có nhiều lỗi lầm tự có mặc cảm thường đông hơn là số người biết tàm quý, hối hận, sửa đổi tu hành.

Chúng ta thấy rõ người học đông, tu nhiều, nhưng không mấy người đạt mục tiêu. Năm trăm người đều bị khủng hoảng trong vấn đề tu hành, không biết có nên tin vào việc làm của họ hay không. Vậy mà chỉ có sáu mươi người, tức chỉ có mười phần trăm quyết chí đi lên. Số người còn lại thì mặc tình trôi theo nghiệp ác.

Đọc đến đây, thiết nghĩ hiện tại, chúng ta sống trong Tăng đoàn, được người nàophát tâm Bồ đề, sống hướng thượng là quý người đó. Thời của ngài Di Lặc còn tệ hại như vậy, khả năng và đức độ của ngài Di Lặc tuyệt vời còn không thể làm khác; huống chi thân phận kém cỏi của chúng ta thì làm được gì. Tham vọng lớn, muốn sửa đổi mọi việc thành tốt đẹp, mà phước đức và trí tuệ cỏn con, chỉ chuốc họa vào thân. Bốn trăm bốn mươi bốn người còn lại, họ tự đi theo con đường riêng của họ, hay nói cách khác, là thực tế của Tăng đoàn chúng ta phải nhận cho rõ.

Di Lặc Bồ tát thừa kế Phật, đương nhiên có quyền đối với chư Tăng. Tại sao ngài không áp dụng quyền để khống chế người nghe theo ngài, mà lại dẫn họ đến đảnh lễ Phật, cầu pháp tu giải thoát. Theo tôi, chúng ta học với Di Lặc là học gương sáng của ngài, không áp dụng giáo quyền đối với người, buộc họ theo. Làm Trụ trì cũng vậy, không nên dùng quyền đối với Tăng Ni trong chùa, hay không được dùng quyền đối với bất cứ ai, mới thực sự theo đúng tôn chỉ của đạo Phật.

Không dùng quyền, cũng không áp dụng luật để cử tội. Chỉ áp dụng lòng thương của ta với mọi người, dù họ thuộc thành phần nào trong xã hội. Đánh mất tấm lòng từ bi thì không phải đệ tử Phật.

Di Lặc thấy đại chúng không tu được. Ngài khởi tâm đại bi thương xót họ, không áp dụng quyền luật. Ngài chỉ cảm hóa bằng lòng từ bi, thì người còn chút căn lành mới cảm mến được. Hàng nhứt xiển đề làm sao cảm được tấm lòng của ngài. Bồ tát Di Lặc cảm hóa bằng đức hạnh cũng chỉ thuyết phục được sáu mươi người, tức đạt kết quả một phần mười. Chắc rằng khả năng của chúng ta cảm hóa người, chỉ được một phần trăm, cũng là tốt lắm.

Có thể nói đức hạnh của chúng ta đến mức độ nào thì sức cảm hóa đến đó. Phật dạy rằng một vị A la hán chỉ độ được ba người và hàng Thanh văn thì thường một Thầy một trò. Vì vậy, trên bước đường tu, điều trước tiên phải lo xây dựng đức hạnh của chính mình, mới có sức thuyết phục người.

Bồ tát Di Lặc thấy những Tỳ kheo tu hành, nhưng không thăng hoa cuộc sống. Ngài mới dẫn họ đến Phật Thích Ca để hỏi nguyên nhân. Họ là người của Phật Thích Ca cứu độ, thì phải chính Đức Thích Ca dạy mới được. Trong đạo, vấn đề nhân duyên quan trọng, Thầy nào trò đó. Di Lặc cũng tuyên dương chánh pháp của Phật Thích Ca, không phải pháp của ngài. Phải đến hội Long Hoa, Di Lặc làm Phật mới nói pháp của ngài.

Di Lặc bảo họ đến hỏi Phật Thích Ca, vì số người mặc áo Phật, ăn cơm Phật rất nhiều, nhưng có mấy người sống như Phật. Di Lặc xác nhận chỉ có mười phần trăm cầu tiến, còn lại thích hưởng thụ. Những người đến thấy Phật, rơi lệ, cầu Phật chỉ dạy. Họ muốn tu thật, nhưng không tìm đươc lối thoát tâm linh, dễ sanh ra chán nản. Điều này gợi cho chúng ta ý thức rằng tuy cùng xuất gia, nhưng người đạt kết quả tốt, người không được gì, thậm chí còn bị tác hại xấu. Phẩm này nói đến người tu không được lợi ích.

Phật dạy rằng việc tu hành có kết quả tốt là nhờ yếu tố Bồ đề và căn lành. Yếu tố Bồ đề là trí tuệ có, nên những gì Phật nói khó hiểu, khó tin, mà chúng ta tin, hiểu và thực hành được, dẫn đến thành quả tốt. Nhờ căn lành, chúng ta vô chùa gặp thắng duyên, tu được.

Trái lại, không có căn lành, lại có ác nghiệp, chắc chắn không tu được. Yếu tố Bồ đề không có, không thông minh, không hiểu được việc khó, chúng ta không thích học. Kinh nghiệm dạy học cho tôi thấy rõ những người nghe giảng bài. Họ không hiểu, không thâm nhập được pháp, thường sợ học và thích trốn, ngồi ở phía sau để ngủ hay nói chuyện chơi, là nghiệp bắt đầu sanh ra. Không nghe pháp được, không có sức tập trung, thì không thể học đạo. Hoặc tụng niệm, lễ bái đối với họ như là cực hình. Một ngày chỉ có hai thời công phu, nhưng lại sợ, không muốn tụng, chứng tỏ ác nghiệp có, là nghiệp lười biếng.

Người nhiều ác nghiệp không tu được. Họ thích hợp với việc thế gian tội lỗi, không thích hợp với việc giải thoát, vì nhiều kiếp trước đã từng làm việc đó. Thật vậy, Phật cho biết từ nhiều kiếp quá khứ, ở thời Phật Câu Lưu Tôn, những Tỳ kheo đã xuất gia, thọ Bồ tát giới, nhưng không thanh tịnh, vì thiếu nhân lành, không có hột giống Bồ đề. Tuy cũng tu đã lâu, mà không học được, không phát triển trí tuệ, không có hiểu biết sáng suốt và không có đạo đức.

Theo tinh thần Đại thừa, tu lâu mau không thành vấn đề; nhưng sanh được công đức, người chấp nhận và kính trọng, ta có thể đi