cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển V - Kinh Đại Bảo Tích - Tập 1


Ma ha Ca Diếp được xếp vô bậc Đầu đà đệ nhất vì Ngài chuyên tu khổ hạnh. Chúng ta suy nghĩ xem pháp Đầu đà và pháp Bồ tát có điều gì mâu thuẫn hay không.

Trong mười đại đệ tử của Đức Phật, mỗi vị có một pháp tu và việc làm riêng để thích hợp với hoàn cảnh và nơi giáo hóa. Vì vậy, trên bước đường hành đạo, chúng ta không nên bắt chước việc của người. Tuy cùng chung một Thầy, học cùng một trường, nhưng mỗi người có hoàn cảnh riêng; phải biết phát huy năng lực của mình để làm lợi ích cho đời.

Người này không làm việc của người khác. Làm chung một việc giống y hệt nhau không phải Phật đạo, vì không thể hiện được tính toàn diện của Phật pháp. Mỗi người mang một hạnh để độ một hạng người. Thiết nghĩ Tăng Ni ra trường phải hướng đến việc nào mình thích, làm được và chỗ nào hành đạo được.

Ca Diếp tu khổ hạnh, nên đối tượng giáo hóa của ngài là người nghèo. Việc làm phải thích hợp với môi trường, thì sẽ có những người đồng tình theo; đó là duyên giáo hóa. Còn người chống đối, không phải duyên của ta, nên để người khác độ họ. Thí dụ người tu Thiền gặp ngườicũng tu Thiền, họ dễ có cảm tình và quy phục.

Ca Diếp chọn pháp tu khổ hạnh, thường mặc áo giản dị, đi vào xóm nghèo để độ những người nghèo khổ thì thích hợp. Trái lại, Tu Bồ Đề giáo hóa người giàu. Ngài phải ăn mặc sang trọng và cung cách nói năng, xử sựgiống như họ, họ mới nghe theo.

Thực ra Ca Diếp có hạnh nguyện độ người nghèo, nên đóng vai nghèo, không phải ngài nghèo khổ thật. Ngài xuất thân từ dòng họsang trọng và mang của cải bố thí rồi xuất gia theo Phật. Điều này nhằm nói lên lý tưởng cao đẹp là bỏ việc thế gian để hành pháp xuất thế. Vì vậy, Thiền tông chọn ngài Ma ha Ca Diếp làm Tổ.

Trong Phật giáo, không tu Đầu đà khổ hạnh, ít ai chấp nhận. Ngài làm Tổ cũng thể hiện ý nghĩa đó. Chọn cuộc sống nghèo thì được đa số chấp nhận, vì 80% là dân nghèo, nên hành pháp này mang tính phổ cập. Vì đa số người nghèo, Ca Diếp từ bỏ giàu sang, đến sống chung với họ, để mang tính đồng sự, gần gũi quần chúng, giáo hóa nhiều người, nghĩa là thực hiện mục tiêu vì lợi ích cho số đông.

Trong pháp hội này đặt vấn đề Phật huyền ký cho Ma ha Ca Diếp làm Tổ, thay ngài giáo hóa chúng sanh, thì Ca Diếp liền hỏi Phật như sau. Nếu có người giàu có (tiêu biểu cho Phật) bận việc đi xa và đem sự nghiệp của báu giao cho ông già 120 tuổi cô độc, không có con cháu, lại bệnh nằm liệt giường, rồi bảo sau này ông trở về, phải trả lại tài sản ấy cho ông. Nhưng người chủ tài sản to lớn ấy chưa về thì người già kia đã chết. Bao nhiêu tài vật châu báu được ký thác đều mất cả, ông nhà giàu chẳng biết đâu mà đòi tìm.

Ca Diếp bạch Phật rằng nếu Phật đem pháp phú chúc cho Thanh văn giữ gìn thì cũng giống như ông giàu có giao tài sản cho kẻ tuyệt tộc, sắp chết vậy. Ca Diếp tu hạnh viễn ly xuất thế, không nghĩ đến cuộc đời và chết là hết, chấm dứt sanh tử luân hồi. Vì vậy, theo Ca Diếp, Phật nên giao giáo pháp lại cho Di Lặc Bồ tát; ví như giao của báu cho người trẻ, khỏe mạnh, giàu có, đạo đức.

Có thể nói giáo pháp Phật được phú chúc cho hai người. Một là giao lại cho người tu hạnh Đầu đà tiêu biểu cho người trong sạch. Mặc dù họ không có thừa kế, nhưng đức hạnh thuần thiện mới có khả năng giữ vững đạo pháp lâu dài. Ý này thường được diễn tả rằng giới luật là sự thọ mạng của Phật pháp. Giới hạnh trang nghiêm của người chân tu mới giúp cho Phật giáo cửu trụ. Điều này thể hiện ý nghĩa Đức Phật phú chúc giáo pháp cho Ma ha Ca Diếp. Thứ hai là Phật giao phó cho Di Lặc Bồ tát giữ gìn giáo pháp, vì Di Lặc tiêu biểu cho tâm hoan hỷ rộng lớn, dung nhiếp được mọi người. Nếu Phật giáo chỉ nương giáo pháp tiểu thừa, viễn ly thế gian, thì không thể tồn tại. Nhận chân ý này, chúng ta học Đại thừa, phải phát huy tâm hoan hỷ mới giữ được mạng mạch của đạo pháp.

Có thể hiểu về mặt đạo đức thánh thiện, thì chọn Ma ha Ca Diếp và về phương diện hoằng hóa phải chọn Di Lặc Bồ tát. Tôi sang Đài Loan thấy trong chùa có câu đối: "Thuyết pháp như Duy Ma, độ chúng như Di Lặc”, hay đó là hai mẫungười lý tưởng mà chúng ta tu theo.

Duy Ma rõ ràng tùy duyên thuyết pháp ở thành Tỳ Da Ly. Ngài thành tựu Tứ vô ngại biện tài, điều gì cũng biết, việc gì cũng làm được. Từ vua chúa, trưởng giả đến hàng trí thức, người nghèo khổ, Duy Ma đều cảm hóa được.

Độ chúng thì phải có tấm lòng rộng lớn như Di Lặc Bồ tát, bao dung mọi người; tất cả thành phần xã hội mới quy ngưỡng. Nhiếp chúng như Ca Diếp, lúc nào cũng đăm chiêu, ở sâu trong Thiền định, thấy được tâm của chúng và cảm hóa họ.

Ca Diếp và Di Lặc là hai mẫu Thanh văn và Bồ tát được Đức Phật đưa ra cho chúng ta noi theo trên bước đường tu.

Ca Diếp tự nghĩ sau Phật diệt độ, sẽ không có người tu hành như thời Phật tại thế. Ca Diếp mới phát biểu rằng ngài không giữ gìn giáo pháp lâu dài được. Từ ý nghĩ duyên khởi của Ca Diếp như vậy, Phật dạy rằng dù có Phật hay không, tất cả Tỳ kheo muốn tu trong chánh pháp phải giữ những điều sau đây:

1- Phải tùy thuận theo chánh pháp. Nhưng chánh pháp là gì. Nếu hiểu chánh pháp là pháp căn bản đầu tiên, thuần nhất, không pha trộn, do Đức Phật giảng nói, tức do con người thuần thiện, sáng suốt nhất nói ra thì cũng phải lợi ích cho số đông. Tuy nhiên, theo Phật, chánh pháp đó vẫn là phương tiện. Nói cách khác, tùy phương tiện để làm lợi ích cho nhiều người là thể hiện được ý nghĩa của "Chánh”, không phải lặp lại y như Phật là "Chánh”.

Phật tại thế, ai Ngài cũng độ được, thì ngày nay chánh pháp chúng ta nói ra cũng phải như vậy; nghĩa là ai cũng nghe được và sống theo được lợi ích. Nói mà người không nghe theo, hay không được lợi ích gì, không thể coi là "Chánh”.

2- Người tu phải dẹp bỏ tâm không ngay thẳng, khác với trực tâm. Chúng ta phải làm thế nào vừa tùy thuận chánh pháp, làm lợi ích cho hữu tình, vừa ngay thẳng, không được quanh co.

Cổ nhân có nói: "Thẳng mực tàu, đau lòng gỗ”. Chúng ta có mục tiêu, nhưng đi thẳng không được, vì họ chưa thể chấp nhận chân lý. Phải từ từ dùng phương tiện của Phật để đưa người vào đường chánh, không phải bẻ cong. Không ngay thẳng, đạo không tồn tại.

3- Người tu phải có ý thức xa rời tham dục, chính yếu là ngũ dục gồm tiền của, sắc đẹp, ăn uống, ngủ nghỉ và tiếng khen, mà người thế gian thường ham thích. Tu hành, không bỏ được năm thứ này ngay tức khắc trong một lần, nhưng chúng ta có thể cắt được từng phần. Hạn chế dần để đạt đến thiểu dục. Thí dụ trước kia, phải tìm món ăn ngon, nay chỉ ăn để sống và ăn bớt lần, còn một bữa. Và khá hơn, rèn luyện cơ thể tiếp thu được tất cả, chuyển thành chất dinh dưỡng để sống và khỏe mạnh.

Thuở nhỏ ăn nhiều, nhưng bệnh; tôi tập ăn ít, bệnh lại giảm, là hành Đầu đà. Bớt ăn thì sẽ bớt ngủ, hai thứ ham muốn này thường gắn liền với nhau. Chiều không ăn hay ăn nhẹ, tối lạy sám hối dễ và ngồi Thiền tỉnh táo. Bớt ăn ngủ, thay vào đó bằng Thiền quán. Người nhập Định được phải ít ăn và không buồn ngủ. Lần từng bước chúng ta xa rời ngũ dục để lập hạnh Sa môn.

4- Phải có tâm tàm quý thay cho tâm ganh tỵ. Những gì người được, ta chưa được, phải nghĩ ta đồng tu mà như vậy là còn dở; nên xấu hổ và nỗ lực cho đạt được như người. Không bằng người mà tìm cách nói xấu, không phải thật tu. Có tâm tàm quý mới đi lên được, còn tự bào chữa, không phải đạo.

5- Thường nghĩ đến sanh tử, vì ở trong chốn trần lao sanh tử thật đáng sợ, phải lo thoát ly. Nay gặp được Phật pháp, tu không đắc đạo; nếu tái sanh, không gặp giáopháp Phật thì chúng ta tiêu mất công phu này hay sao. Vì vậy, nỗ lực tu cho đạt kết quả,luôn có nguyện và hạnh; nghĩa là thâm tâm chúng ta suy nghĩ và thực hiện tất cả công phu tu tập để những kiếp sau, chúng ta sanh ở nơi nào cũng gặp được thầy hiền, bạn tốt, còntiếp tục tu được.

Từ thuở nhỏ, tôi tâm đắc bài kệ:

Linh Sơn nghĩa cũ tình xưa.

Ta Bà, Tịnh độ say sưa pháp mầu.

Nghĩa là cầu mong những người cùng tu học ở hội Linh Sơn sanh chung một chỗ với chúng ta, dù ta tái sanh ở đâu. Phổ Hiền Bồ tát cũng nguyện: "Những người cùng tôi đong một hạnh, cầu được sanh chung các cõi nước, thân khẩu ý nghiệp đều đồng nhau, tất cả hạnh mầu cùng tu tập….”.

Sợ nhất rơi vào sanh tử, không có bạn đồng tu. Có nhiều người đồng tu, ta mới có thế mạnh. Vì sợ bạn sanh tử sẽ dẫn nhau vào sanh tử thì nguy lắm; chúng ta tìm bạn cùng hướng tâm Niết bàn, đồng hạnh nguyện với ta để kết thân. Kiếp lai sanh, ta và họ cùng hạnh ngộ.

6, 7- Và hai pháp sau cùng của Sa môn thật tu là cầu xuất ly tam giới và thường nghĩ đến Niết bàn. Đó là bảy pháp mà Đức Phật dặn Ca Diếp, sau Phật diệt độ, phải khuyên người giữ được bảy pháp này; chắc chắn từng bước tiến đến Vô thượng Bồ đề.

Chúng Thanh văn không tu bảy pháp này thì sẽ bị đọa ngay; vì tâm không vững, vào trần ai độ sanh, chắc chắn sẽ bị nhiễm ô. Nhưng chứng Vô sanh rồi, không gì có thể tác động, vào đời độ sanh không khó nữa.

Ngoài ra Phật còn khuyên Ca Diếp nên dạy chúng Tăng bốn điều không được làm. Nếu phạm phải là Sa môn tặc hay giặc Sa môn. Áo Sa môn là áo giải thoát của Phật tiêu biểu cho tâm hồn giải thoát. Nhưng mặc áo Phật mà không giữ giới, ba nghiệp không thanh tịnh, thì được xếp vào hạng giặc Sa môn. Hạng này đi tu đông, đáng sợ hơn là giặc bên ngoài, trong kinh thường gọi là sư tử trùng. Nếu mặc áo tu, nhưng không giữ hạnh Sa môn, thì nên hoàn tục. Đức Phật nói điều này, có năm trăm Tỳ kheo xin xả y, trở về thế tục vì sợ tội.

Thời Phật tại thế, không ít người theo Phật tu vì họ thấy có nhiều quyền lợi. Điển hình như ở Xá Vệ, Cấp Cô Độc lấy vàng đổi đất, xây tinh xá cúng Phật. Đặc biệt là vua Ba Tư Nặc ra lịnh ai phạm tội gì cũng không bị trừng trị, nếu mặc áo tu. Ngày nay các nước theo Phật giáo Nguyên thủy vẫn tôn trọng ý này.

Có thể nói thời Phật giáo vàng son ấy đã xuất hiện hạng giặc Sa môn rất đáng sợ. Đó là những người cướp của, giết người, trốn tránh luật pháp bằng cách đi tu. Nhờ khoác vào chiếc áo tu, họ vẫn sống nhởn nhơ, không bị hành hình. Thậm chí, phạm pháp rồi giết cả Sa môn để lấy áo tu mặc vào, vừa không bị luật pháp trừng trị mà còn làm cho người khác mắc lầm, tin tưởng là Sa môn thật. Và họ lợi dụng chiếc áo tu để tiếp tục làm điều bất chính. Hạng giặc Sa môn là tác nhân nguy hiểm làm cho Phật giáo suy đồi.

Bốn điều Phật dạy Sa môn không được làm là không được làm chính trị, kinh doanh, buôn bán và làm ruộng. Nhưng giặc Sa môn làm những việc này. Thí dụ ngày nay ta thấy nhiều người bán nhang, thường nói mua giùm cho chùa, thực chỉ đáng 10.000đ, nhưng lại bán đến 50.000đ. Điều này không tốt, làm như vậy không phải Sa môn thật, vì giới pháp không cho phép Sa môn buôn bán, tích lũy.

Giặc Sa môn chỉ vì quyền lợi, nên tâm họ luôn nghĩ những điều xấu ác, hơn thua, phải trái. Họ không thật tu, vì muốn được ăn ở đầy đủ nên khoác áo tu. Đó không phải là hạnh của người tu.

Phật dạy Sa môn thật thì nên tránh lợi dưỡng. Thực tế, chúng ta thấy các bậc chân tu ít thích trụ lại chỗ có quyền lợi, vì ngại sự quấy rối của giặc Sa môn. Các ngài chỉ ghé qua, sống ở chỗ tranh chấp ấy để rèn luyện ý chí. Thực hiện xong mục tiêu, thì tiếp tục bước chân du hóa.

Giặc Sa môn thì trái lại, luôn luôn lấn chiếm; thậm chí gây rối để người chịu không nổi, phải bỏ đi, rồi họ chiếm luôn. Như vậy tâm của họ lúc nào cũng nghĩ đến điều ác, sẽ vào địa ngục, không được giải thoát.

Giặc Sa môn là tiếm Thánh chưa đắc quả gì, nhưng làm bộ như là Thánh để người cung kính, cúng dường. Làm như vậy tội lắm; vì Phật dạy thọ dụng của đàn na tín thí mà không đắc đạo, phải mang lông đội sừng để trả nợ.

Theo tôi, trên bước đường tu, thọ lãnh càng ít càng nhẹ. Thọ lãnh sự cung kính cúng dường nhiều thì nặng nề lắm, khó phát huy đạo hạnh. Nhất là chưa xứng đáng, mà tỏ ra vẻ cao Tăng để người cung kính thì càng tội nữa. Tôi thấy một số Thầy cô chưa tới đâu, nhưng cao ngạo lắm, không được gọi Thầy là đỏ mặt. Phải tự hạ thấp mình và ý thức rằng người tôn trọng thì càng tổn phúc cho ta. Họ xem thường, mình không bị gì, mà còn được nhẹ nghiệp. Được cung kính, sợ mình không xứng đáng; xem thường cũng không sao. Nếu biết phấn đấu tu hành, mai kia ta đắc đạo, thì họ sợ. Nhưng nếu họ kính trọng mà thấy ta bỏ tu thì sao.

Giặc Sa môn tự khen mình chê người. Đối với người giỏi thật, nhưng vì tỵ hiềm, ta cũng bươi móc, nói xấu. Còn ta không tốt, nhưng cứ nói tốt. Thuở nhỏ, đọc điều này, tôi sợ lắm. Mỗi khi muốn nói với ai điều gì tôi tâm đắc, muốn nói kinh nghiệm mình tu vươn lên được thì sợ rớt vô giặc Sa môn, tự khen mình.

Và chê người dở cũng không nên, vì thấy cái dở của người thì cái dở ấy cũng đã len vào lòng mình rồi. Mai mốt, nó sẽ là hạt nhân kết thành cái quả cho ta gánh chịu thì nguy. Thật vậy, tôi thấy bạn đồng tu thường làm những việc mà họ từng chê bai.

Người sái quấy, ta chê họ, còn bị tội; huống chi người không sai, vì tỵ hiềm mà ta nói xấu họ. Có người tu chưa bao lâu, nhưng phước đời trước lớn, nên họ có quyến thuộc đông, giàu và thành tựu được những việc mà ta không làm nổi. Ta thấy vậy, ganh tức nên chê họ mới tu, không học.

Riêng tôi, nghĩ ngược lại, ta tu lâu, nhưng không làm được việc, thì đáng chê hơn. Người mới tu được công đức lớn, chúng ta dễ xem thường và chê họ, hoặc cho rằng họ không tu. Tuy nhiên, làm sao ta biết họ không tu. Họ không tu hay ít tu, mà được nhiều công đức, phải biết là họ tu trên chơn tánh. Còn ta tu hình thức, nên thấy công phu thật vất vả mà phiền não đầy ắp. Phải nghĩ như vậy, mới không đọa tăng thượng mạn và tự thấy xấu hổ. Nỗ lực khắc phục tánh xấu của mình, từ đó mới có thể đi lên. Ngược lại, cứ chê người khen mình, nhưng càng tức càng khó chịu, càng nói thì ta càng đọa sâu.

Tôi quan sát kỹ nhận thấy người nào phạm một trong bốn điều nói trên mà Đức Phật đã ngăn cấm thì không thể nào tồn tại trong đạo được. Chúng ta cần phân biệt rõ chân chánh Sa môn và giặc Sa môn. Kết bạn với chân chánh Sa môn để nương theo phát triển đạo nghiệp của chúng ta và tránh xa hạng tặc Sa môn.

Kế tiếp, Đức Phật cũng khuyên người tu tránh bốn điều phóng dật hay buông lung, khởi ý niệm tự mãn; đó là:

1- Đa văn phóng dật

Việc học cũng cần, nhưng nếu để cho việc này chi phối nhiều, dễ rơi vô cầu danh, cầu lợi. Việc học đạo của chúng ta để cầu giải thoát. Nếu Tăng Ni theo học bên ngoài, nhưng mất chánh hạnh Sa môn, thì không có lợi cho việc tu hành. Vì vậy, cần giữ bảy pháp Sa môn và kèm theo học vị càng tốt. Còn nặng học vị, ta rớt vô phóng dật, tâm ta buông lung, chạy theo đời, phiền não phát sanh, hạnh Sa môn của chúng ta bị mất.

2- Lợi dưỡng cũng xếp vô phóng dật

Chúng ta tu cầu giải thoát, nhưng chỉ lo tiếp bổn đạo, lo kiếm tiền xây chùa cho đẹp. Từ đó việc hóa duyên của chúng ta nhằm tô bồi cho ngã và ngã sở, cũng là phóng dật tâm.

Cuối cùng, tâm trí ta để vô lợi danh, nên xây xong chùa rồi chết, hay nằm một chỗ thì thà không làm còn tốt hơn. Sa môn không có chùa nhưng tâm hồn trong sáng, không bị phiền não thế tục quấy rầy, thể hiện hạnh Sa môn chân chánh.

3- Quyến thuộc

Vì ta có quyến thuộc, nên phải lo làm vừa lòng để giữ họ lại với ta. Nói cách khác, ta bị lệ thuộc, phân tâm, nên cũng rơi vô phóng dật, trở thành người phục dịch tín đồ, không phải hạnh Sa môn.

4- Hành Đầu đà ép xác cũng xếp vô phóng dật, vì mục tiêu của hạnh này không phải ép xác. Phật không dạy ta tu Đầu đà để sức khỏe yếu kém, ý chí hạ liệt và không sanh trí tuệ.

Theo tôi, hành Đầu đà nhằm phát huy cơ thể chịu đựng được đói khát, nóng lạnh, mới có thể hành đạo được. Kế đến là rèn luyện ý chí, vì gặp khó khăn, ta nghĩ việc đó tầm thường cần phải vượt qua. Muốn làm Phật, Bồ tát còn có nhiều việc khó hơn. Thành công được một việc khó, không tự mãn, còn nhiều gian nan chờ đón ta. Như vậy, hành Đầu đà rèn luyện cho ta ý chí phấn đấu liên tục. Và hành Đầu đà, đi nhiều, tiếp xúc nhiều để tăng trưởng sự hiểu biết của ta về căn tánh hành nghiệp của chúng sanh đúng như thật. Nhờ đó giáo hóa người dễ thành công.

Nếu chúng ta phạm phải một trong bốn điều phóng dật nói trên, cũng bị mất quả Sa môn.