cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển V - Kinh Đại Bảo Tích - Tập 1


Pháp hội này nói về Đà la ni hay thần chu. Hàng ngày, chúng ta thường tụng Đà la ni, nhưng phần lớn chỉ đọc suông, không hiểu ý nghĩa gì cả. Trên thực tế, một số người trì chú Đại bi hay Chuẩn đề đạt được kết quả tốt, nhưng cũng có giới hạn, thì điều đó không phải là ý mà phẩm này muốn gợi ra.

Thần chú là mật ngữ và ta tụng bằng tâm niệm bình thường, nên không có hiệu quả. Tuy nhiên, tụng thần chú bằng sự gia công tu luyện sẽ được kết quả, nhưng lại dễ lạc vào ngoại đạo; vì chúng ta nhận được sự linh nghiệm mà không biết tại sao.

Thật vậy, các tu sĩ chuyên trì chú cho biết rằng việc trì chú có linh nghiệm, nhưng lúc được, lúc không, lúc cần lại không được, lúc không cần thì được; hoặc chữa được bệnh cho người, nhưng không chữa được cho mình. Ngoài ra, một số Thầy trì chú nhiều, về sau thường bị huyết áp cao. Vậy thực chất của Đà la ni là gì.

Theo kiến giải Đại thừa, Tam muội là định và Đà la ni là huệ. Vì là Phật huệ, là tự nhiên trí, nên tất cả Đà la ni đều lưu xuất từ chơn tâm của Phật, Bồ tát. Vì vậy, Đà la ni thường được gọi là Phật ngữ, được coi là mật ngữ. Vì ngoại đạo và phàm phu không hiểu được, nên coi đó là bí mật. Tuy nhiên, Đà la ni hoàn toàn có thật đối với chư Phật, không hề bí mật. Tu đúng pháp, đắc đạo thì sẽ có cách giải được tất cả Đà la ni; không phải hoàn toàn không biết như ngoại đạo hay phàm phu đọc thần chú. Đối với chúng ta chưa đắc đạo, Đà la ni không có nghĩa. Chúng ta có cảm giác đó là âm thanh gốc phát xuất từ bản thể sự vật và sản sinh ra tất cả âm thanh, ngôn ngữ.

Trên bước đường tu, khởi đầu, chúng ta phải trì được luật nghi rồi mới trì Đà la ni. Trì được luật nghi, xóa được hiện tượng giới để thâm nhập bản thể giơi và từ đây mới lưu xuất Đà la ni.

Phải khẳng định rằng người trì chú linh nghiệm đều vượt qua hiện tượng giới. Họ đạt đến vô ngã hoàn toàn, không có ý thức nào trong đầu và đọc chú mà không khởi dụng ý gì, mới linh nghiệm. Chúng ta đọc thần chú trên đầu môi chót lưỡi hay đọc để cầu cái gì, là rớt vô vọng cầu, chẳng bao giờ được.

Đà la ni thuộc bản thể giới tạo thành ngôn ngữ âm thanh không nghe được bằng tai, không đọc được bằng ý thức. Từ đó, khi chúng ta trì chú ở trạng thái vô cầu, vô niệm, thì đạt kết quả và người xung quanh nghe cảm nhận điều kỳ diệu nơi ta.

Bước đầu tu cần Nhiếp luật nghi để hạn chế tánh xấu của ta. Tu Mật tông, trước tiên phải giữ ba nghiệp thanh tịnh; vì không thanh tịnh mà trì chú, chúng ta dễ lạc vào ngoại đạo. Nhiếp luật nghi tạo cho ba nghiệp được thanh tịnh. Thế nào là thanh tịnh.

Trước hết, tu Mật tông đòi hỏi chúng ta phải có cấu trúc cơ thể đặc thù. Nói cách khác, chúng ta đã điều chỉnh, cải tạo được thân nghiệp; nên cơ thể có sức chịu đựng kỳ diệu hơn người, không bị bốn tướng nóng, lạnh, đói, khát chi phối.

Nhờ thành tựu Nhiếp luật nghi và điều chỉnh cơ thể, cộng với gia trì lực của Thầy, tạo cho ta một sức chịu đựng phi thường, hay sức đề kháng mãnh liệt của cơ thể. Ở Mật tông, họ thử xem ta có thể chống trả sự khắc nghiệt của băng giá, bằng cách bắt trầm mình xuống suối lúc thời tiết lạnh dưới không độ. Nếu ta chịu đựng nổi và tạo được thân nhiệt sưởi ấm cho cơ thể, thì ra khỏi nước, thân mình đỏ au, chớ không tái mét và khỏe như thường, không bị cảm lạnh. Việc chọn lựa một hành giả tu được Chân Ngôn tông đòi hỏi phải có cơ thể đặc biệt như vậy. Nếu không, khi trì chú, thân chúng ta sẽ nảy sinh nhiều vấn đề, không thể tiến tu được.

Kế đến là tu khẩu nghiệp, dứt bặt ngôn ngữ bình thường. Hành giả trì chú, nhờ sự trợ lực của Thầy, tạo được mối quan hệ với Phật. Như vậy, Thầy phải đắc Đà la ni mới truyền được cho đệ tử; vì không phải truyền bằng giáo nghĩa, nhưng truyền bằng tâm chứng. Thật vậy, Thầy đắc Định, tâm thanh tịnh của Thầy tác động cho trò trở thành vô niệm, mới tụng được Đà la ni hay phát xuất ra ngôn ngữ của bản thể sự vật. Khi khẩu nghiệp chúng ta thanh tịnh, thì Đà la ni của Phật hay chân sư truyền sang làm ý nghiệp ta thanh tịnh theo và lặn sâu vào bản thể mới trì được Đà la ni có linh nghiệm.

Trong phẩm Vô Biên Trang Nghiêm nói về Đà la ni khác hơn những điều tôi trình bày thuộc Chân Ngôn tông. Họ thật sự đắc Đà la ni, nhưng không biết tại sao và truyền cho ta, ta cũng không hiểu tại sao có sự bất tư nghì như vậy. Ai thực hành theo khuôn mẫu thì được linh nghiệm thế này, thế kia. Có thể nói Mật giáo truyền trên thế gian đều như vậy; họ diễn tả những cách khác nhau, nhưng chỉ nói về sự kỳ diệu vượt bực mà không ai giải thích được.

Ở Trung Quốc, chỉ có ngài Bất Không Tam Tạng sử dụng được Mật giáo. Ở Nhật Bản chỉ có ngài Hoằng Pháp đại sư đắc được pháp này và truyền cho đệ tử, tạo thế mạnh cho Phật giáo, khiến vua chúa phải kính phục, ủng hộ đạo. Mật tông Nhật Bản nổi tiếng với truyền thống lựa chọn người lên Cao Dã sơn tu theo pháp của ngài Hoằng Pháp. Nơi đó không có chỗ cho những người bình thường tu; vì chỉ những hành giả có thể lực tốt đặc biệt và có tríthông minh hơn người mới được chọn tu pháp này. Riêng bản thân tôi, khi gặp khó khăn, nguy hi