cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển V - Kinh Đại Bảo Tích - Tập 1


Mở đầu pháp hội, Bồ tát Hỷ Vương tán thán Đức Phật. Tên của Bồ tát có nghĩa là người đạt được nguồn vui lớn. Hỷ Vương có danh xưng này vì Bồ tát sống gần Phật, học với Phật, nghe được pháp vô ngôn, thấy được sự hiểu biết của Phật thật cao tột, cùng với tâm hồn và việc làm thánh thiện của Phật tuyệt vời vô cùng. Thấy Phật như vậy khiến ông hếtlòng kính trọng, tin tưởng Phật và nhận được niềm vui kỳ diệu, không gì có thể so sánh, đánh đổi được. Không có cái thấy hay độ cảm tâm như vậy, không tu được. Vì thấy theo bình thường, Phật cũng như mọi người, chúng ta sẽ không dám dấn thân hành đạo, không dám hy sinh.

Khi Bồ tát Hỷ Vương tán thán Phật xong, thì Hộ Quốc Bồ tát xuất hiện, hướng dẫn một số Tỳ kheo vừa mãn an cư kiết hạ về thành Vương Xá, đến Kỳ Xà Quật đảnh lễ Đức Phật. Điểm này gợi cho chúng ta suy nghĩ rằng trước khi an cư, chúng ta nhìn theo nghiệp, thấy cuộc đời ảm đạm và hoàn cảnh khó khăn bao vây. Nhưng nay trải qua quá trình tu ba tháng an cư, tầm nhìn của chúng ta phải thay đổi. Nghiệp đã lắng xuống và huệ phát sanh, nên phải thấy khác.

Hộ Quốc Bồ tát đưa một số tân Tỳ kheo ra mắt Phật, để xem họ nhận thức về Đức Phật có giống như ông hay không. Ý này cũng gợi cho chúng ta suy nghĩ trên bước đường tu, người đồng sự, đồng tu với chúng ta có ý thức, ý nguyện và việc làm giống như ta hay không. Nếu họ có cái nhìn về Phật giống ta và họ cũng tha thiết thể hiện tinh thần Phật dạy trong cuộc sống giống như ta, thì biết đó là bạn đồng hạnh, đồng nguyện. Ta có thể kết làm quyến thuộc, tu chung với họ.

Riêng tôi, bạn thật nhiều, nhưng dường như tìm được người đồng hạnh, đồng nguyện là điều không dễ. Có người cùng ý niệm với ta đã khó và khi tiếp Tăng độ chúng, tìm được người cùng chí hướng, cùng việc làm như ta càng khó hơn nữa. Tôi thường thử dẫn họ đi lễ Phật, để xem niềm tin của họ như thế nào, có giống như mình hay không. Cùng là tượng gỗ, nhưng mỗi người nhìn thấy khác nhau. Có người chỉ thấy Phật gỗ hoặc thấy tượng đẹp hay xấu, hoặc lạy Phật lấy lệ, theo hình thức thôi. Người có nhân duyên căn lành thì thấy khác; thậm chí không có tượng Phật, chỉ thấy áng mây bay, dòng nước lặng lẽ, hay dãy núi hùng vĩ mà nghĩ đó là Phật, Bồ tát. Thấy bằng niềm tin thì như vậy.

Hộ Quốc Bồ tát thấy sức sống của đạo pháp thật đẹp biết bao, thấy Đức Phật cao quý nhất. Ngài không biết đệ tử của mình có thấy giống như vậy không, hay là họ coi Phật như một ông già ốm yếu.

Từ tầm nhìn về Phật cao sang tột đỉnh, Hộ Quốc Bồ tát mới hỏi Phật làm sao các Bồ tát tiến đến Vô thượng Bồ đề. Nói cách khác, thấy cái được của Phật mới muốn được như Ngài, là thấy đạo mới tu được.

Câu hỏi đơn giản này khiến tôi suy nghĩ cái được của Phật và cái không được của mình. Tôi nhớ Hòa thượng Minh Châu nói rằng Hòa thượng sung sướng được làm đệ tử của Phật, được sống trong giáo pháp của Phật, hiểu Phật và vui với hương vị giải thoát của Phật pháp. Đó là cái đẹp nhất của cuộc đời người tu theo Phật. Người không theo Phật làm sao có được niềm vui kỳ diệu ấy. Họ có tiền bạc, đền đài, cung điện hơn chúng ta nhiều. So về danh lợi vật chất thì chúng ta thua xa họ, nhưng họ không bao giờ có được cuộc sống giải thoát như đệ tử của Phật.

Pháp Phật dạy hoàn toàn khác với thế gian. Vì vậy, tâm niệm thế gian không thể so với tâm niệm của người tu hành theo Phật. Người thế gian cầu lợi dưỡng, người tu thì cầu giải thoát. Chúng ta tự kiểm lại xem mình có thực sự cầu giải thoát hay không. Đi đúng hướng Phật dạy, mới khả dĩ thấy Phật và được giải thoát.

Đức Phật từ bỏ quyền uy, giàu sang tột đỉnh để đi tìm chân lý. Theo Bà la môn giáo, việc làm này của Phật là sai lầm. Đối với kiến giải Đại thừa, khi tia sáng trí tuệ lóe lên, thì chúng ta thấy đúng. Nhưng vô minh nổi dậy, chúng ta cũng thấy sai.

Thấy sai lầm rằng Đức Phật từ bỏ tất cả quyền lợi, nên Ngài mất tất cả. Hiểu sai lệch theo nghĩa tiêu cực, Tỳ kheo phải từ bỏ tất cả, để trở thành kẻ ăn hại và bỏ mặc cho kẻ xấu nắm giữ quyền hành, thao túng mọi mặt, rồi tiêu diệt luôn cả Phật giáo. Đó là thực trạng sai lầm khiến cho Phật giáo Ấn Độ đã từng bị biệt tăm hàng chục thế kỷ.

Thuở nhỏ tôi tu hành cũng rơi vào tình trạng sai lầm, thích tu khổ hạnh đến mức sức khỏe suy kiệt. Nếu không thức tỉnh kịp thời, thì đã không thể tiến tu đến ngày nay. Chính ta thực hành sai, không phải giáo pháp của Phật sai. Nếu ta chọn con đường tu mà dẫn đến kết quả tự hủy diệt bản thân mình và tiêu diệt đạo, thì rõ ràng hoàn toàn khác với lộ trình của Phật trải qua dẫn Ngài đến quả vị Toàn giác.

Đức Phật đưa ra mẫu người tu tiêu biểu là Hộ Quốc. Đó là Tỳ kheo Bồ tát, không phải tại gia Bồ tát. Nếu người xuất gia tự thủ tiêu khả năng của bản thân, làm tác hại cho sự trường tồn của đạo pháp là điều sai lầm. Nhưng nếu Sa môn vào đời cũng làm những việc y hệt người đời thì cũng sai. Luật Phật cấm người xuất gia không được làm quan, không được kinh doanh hay làm ruộng …, chỉ làm khất sĩ, tức xin ăn.

Mới tu, chúng ta phải như vậy, không thể khác. Tuy nhiên, không phải suốt đời xin ăn; mà cần nỗ lực phát huy đạo đức và tri thức để đạt được quả vị Ưng cúng, xứng đáng cho mọi người cung kính cúng dường. Tôi sang Campuchia thấy một Tỳ kheo ở chùa, không khất thực. Mỗi sáng, Phật tử mang đến cúng dường các sư nhiều đến mức độ không dùng hết, chỉ lấy tay chạm lên thức ăn để chứng minh và cầu phúc cho đàn na tín thí. Sau đó, họ gom thức ăn lại, để bố thí cho người nghèo.

Chúng ta thấy rõ đây là mẫu Tỳ kheo Bồ tát, khác với sự suy nghĩ bình thường của chúng ta là Tỳ kheo phải đi khất thực để sống, thì làm sao có của mà bố thí. Thật vậy, các vị Tỳ kheo này không làm nông, công, thương hay các ngành nghề của thế tục, không có thu nhập. Nhưng họ đạt được quả vị Ưng cúng, khiến cho người thương kính phát tâm cúng dường. Họ có dư thừa, không dùng, mang bố thí. Đó là chánh hạnh của Bồ tát, thể hiện ý nghĩa người tu bỏ tất cả, nhưng được tất cả; hay bỏ cái tầm thường nhỏ nhặt, được cái cao quý rộng lớn. Bỏ cung điện, quyền uy, xuất gia để được như Phật, thì chúng ta nên bỏ. Còn bỏ để trở thành ăn xin, phiền não thì đừng bỏ. Hoặc bỏ để Phật giáo bị tiêu diệt, chắc chắn không nên.

Vì vậy, người tu phải có trí tuệ, biết rõ Đức Phật từ bỏ quyền lợi thế gian để được Vô thượng Đẳng giác, làm Thầy của trời người. Các vị Thánh Tăng, mỗi vị từ bỏ sự nghiệp khác nhau để trở thành La hán, hay Tổ sư, hay đắc được pháp phần nào đó.

Tóm lại, quá trình tu của Tỳ kheo đạt cho được quả vị Ưng cúng mới có thể bố thí, được cúng dường đầy đủ. Hộ Quốc Bồ tát hỏi để các tân học Tỳ kheo hiểu tại sao Đức Phật ở yên một chỗ mà hàng ngoại đạo, trí thức, vua chúa, thường dân tụ tập lại dâng cúng Ngài và hết lòng kính trọng, quy mạng.

Câu hỏi của Hộ Quốc Bồ tát làm sao đạt đến Vô thượng Bồ đề, hay đó cũng chính là mối ưu tư lớn nhất của hàng tu sĩ. Xưa kia, Đức Phật không chống đối ngoại đạo, nhưng hàng phục được họ. Nối tiếp mạng mạch của Phật pháp, những Thiền sư làm được việc giống Phật. Điển hình như Vạn Hạnh thành công trong việc hộ quốc an dân, vua phải kính nể và Ngài cũng nhiếp hóa được Khổng giáo, Lão giáo thành Tam giáo đồng nguyên. Trái lại, có lúc Phật giáo bị suy đồi vì người tu chấp pháp, đặt mình vào tình trạng đối kháng với ngoại đạo, đối kháng với vua chúa. Vì thế, bị họ tiêu diệt; hoặc tự đẩy mình ra ngoài lề xã hội, nên bị coi là ăn bám; hoặc chống lại phong tục tập quán, luật pháp ở nơi đó, trái với yêu cầu của mọi người. Thử hỏi làm sao mà tồn tại nổi.

Vì vậy, Phật giáo đặt ra tiêu chuẩn hành đạo là phải thích nghi với thời gian, quốc độ và tập tục của dân địa phương. Chúng ta còn nhớ vào thời kỳ Phật giáo du nhập vào Việt Nam, đất nước ta đã có tín ngưỡng thờ cúng năm bà. Xây dựng hài hòa với tinh thần này, chúng ta có chùa Pháp Điện, Pháp Vân, Pháp Lôi, Pháp Vũ. Dần dần, các nhà sư chuyển đổi năm bà có quyền hành trở thành người hộ pháp, được thờ phượng ở miếu ngũ hành trong sân chùa và chánh điện rộng lớn để thờ Phật được kính ngưỡng hơn. Nếu quá khích, chúng ta bài bác họ, đụng chạm đến tín ngưỡng của địa phương, thì ta cũng khó ở yên.

Theo kinh Nguyên thủy, nhắm đến việc độ sanh của Đức Phật. Và chuyển sang kinh Tiểu thừa, nhắc đến việc độ sanh và độ người. Đến kinh Đại thừa, kết hợp hài hòa với phong tục tập quán, đưa chư thiên, chư thần vào và hướng dẫn họ lên tư cách của Bồ tát. Có thể thấy đó là tổng quan của đạo Phật để tồn tại song hành với cuộc đời.

Nếu chúng ta tự cô lập để bị nhiều thành phần chống đối, thì tồn tại sao được. Đưa chư thần hay chư thiên vào, nghĩa là đưa tín ngưỡng nhân gian vào. Chú Đại Bi phần lớn có tên của các vị thần Ấn Độ giáo. Đưa họ vào Phật giáo và nâng họ lên thành Bồ tát có khả năng dung hóa được tất cả.

Từ một Tỳ kheo Tiểu thừa một mình đơn độc, nâng lên trở thành Tỳ kheo Bồ tát có tâm hồn phóng khoáng, dung nhiếp mọi người quy phục, kính ngưỡng. Đó chính là ý của Bồ tát Hộ Quốc hỏi Phật phương cách để đi đến quả Vô thượng Bồ đề.

Đức Phật dạy rất nhiều, nhưng có thể tóm lại rằng một vị Tỳ kheo ngoài việc phải giữ gìn phẩm hạnh của tu sĩ, còn phải phát tâm Bồ đề, hành Bồ tát đạo. Nghĩa là thực hiện việc làm bao dung được quần chúng, lợi lạc chođời.

Có thể nói việc làm của Bồ tát xuất gia khác với Bồ tát tại gia. Điển hình như vị Tỳ kheo không có của cải, nhưng vẫn hành bố thí được, nếu có đức hạnh và uy tín. Sử dụng tiếng nói đạo đức ấy để tác động cho người hằng tâm hằng sản cúng dường, bố thí, thành tựu được nhiều Phật sự lớn lao. Vì vậy, người đời thường nói "Của vua thua của Phật”. Câu nói ấy cho thấy ý nghĩa rằng Đức Phật có một kho tàng lớn lao vô cùng. Làm sao chúng ta sử dụng được để cứu giúp chúng sanh. Và kho tàng mà Phật để lại cho chúng ta là gì.

Có người nghĩ Đức Phật để lại tam tạng thánh điển và chúng ta chỉ việc đem ra đọc, học, truyền bá là đủ. Thiết nghĩ chúng ta đọc tụng văn tự kinh là tất yếu. Nhưng điều đó không có nghĩa là lặp lại y như kinh. Vì phần quan trọng là phải nắm bắt được yếu nghĩa tiềm ẩn trong kinh; nói cách khác sử dụng cho được vô tự chơn kinh mà Đức Phật để lại. Đó mới chính là kho tàng vô giá của Phật, vô tận tạng, hay công đức của Phật. Người nào sử dụng được kho tàng này, chắc chắn giàu mạnh hơn vua. Thực tế có những vị Tỳ kheo sống đơn giản, không thấy họ có tài sản gì, nhưng khi người cần đến sự giúp đỡ của họ thì bao nhiêu cũng đáp ứng được.

Có vô tận tạng là có công đức. Người tu mà không thấy công đức, không tạo được công đức và không sử dụng được công đức, thì nghèo đói, khổ sở. Chúng ta tu học, tất yếu nhắm vô ý này. Công đức của Phật, của các vị Tổ sư như thế nào, chúng ta nhận biết và khai thác được, thì trở thành giàu có. Ngoại đạo và vua chúa không thể có tài sản này. Chỉ hàng đệ tử Phật tu đúng chánh pháp mới có; nhưng nếu không khai thác được, sẽ trở thành cùng khổ. Kinh Pháp Hoa diễn tả ý này bằng hình ảnh gả cùng tử ôm ngọc quý đi làm thuê mướn. Chúng ta không thể nào biện minh cho việc con của đấng Pháp vương mà lại nghèo khổ, ăn hại.

Tỳ kheo Bồ tát có nhiều điểm ưu việt hơn hẳn hàng Bồ tát tại gia. Thật vậy, Tỳ kheo Bồ tát về hình thức giống với Đức Phật, được Phật xếp vào hàng trưởng tử của Ngài.