cool hit counter

I. LƯỢC VĂN KINH

Phật bảo Bồ tát Di Lặc đến thăm bệnh Duy Ma Cật. Di Lặc bạch Phật rằng ngài không kham lãnh đến thăm bệnh Duy Ma; vì lúc trước ngài nói hạnh bất thối chuyển cho Thiên vương và chư Thiên ở cõi Trời Đâu Suất. Duy Ma Cật đến nói: "Ngài Di Lặc, Thế Tôn thọ ký cho ngài một đời sẽ được quả Vô thượng Chánh đẳng giác. Đó là đời nào mà ngài được thọ ký, đời quá khứ, đời hiện tại hay đời vị lai.

"Nếu dùng Vô sanh mà được thọ ký thì Vô sanh tức là chánh vị. Đối với chánh vị, không có việc thọ ký, cũng không co việc được quả Vô thượng Chánh đẳng giác. Làm sao Di Lặc được thọ ký một đời sanh.

"Theo Như sanh mà được thọ ký hay theo Như diệt mà được. Tất cả chúng sanh, pháp, Hiền Thánh cho đến Di Lặc đều là Như. Nếu Di Lặc được thọ ký, đáng lẽ tất cả chúng sanh cũng phải được thọ ký. Vì hễ là Như, thì chẳng có hai, chẳng có khác. Nếu Di Lặc được quả Vô thượng Đẳng giác, thì tất cả chúng sanh cũng đều được, vì tất cả chúng sanh là tướng Bồ đề. Nếu Di Lặc được diệt độ, tất cả chúng sanh cũng phải được diệt độ. Vì thế, Di Lặc đừng dùng pháp đó dạy các Thiên tử.

"Di Lặc phải làm cho các Thiên tử bỏ chỗ kiến chấp phân biệt Bồ đề. Vì Bồ đề không thể dùng thân hay tâm mà đắc. Tịch diệt là Bồ đề, chẳng hành động là Bồ đề, bình đẳng là Bồ đề, v.v…”

Khi Duy Ma Cật thuyết pháp xong, hai trăm Thiên tử chứng Vô sanh pháp nhẫn.

Phật dạy Đồng tử Quang Nghiêm đi thăm bệnh Duy Ma. Ngài bạch Phật rằng không đủ sức đảm nhiệm việc đến thăm bệnh Duy Ma; vì nhớ lại ngày trước ngài ở thành Tỳ Da Ly vừa ra, gặp Duy Ma đi vào thành.

Quang Nghiêm hỏi Duy Ma: "Ngài từ đâu đến”. Duy Ma trả lời từ đạo tràng tới. Quang Nghiêm hỏi Duy Ma đạo tràng là gì. Ngài đáp: "Trực tâm, Thâm tâm, Bồ đề tâm là đạo tràng. Sáu pháp Ba la mật là đạo tràng, từ bi hỷ xả, bốn pháp nhiếp, ba mươi bảy Phẩm trợ đạo là đạo tràng, v.v… Nếu Bồ tát đúng pháp Ba la mật giáo hóa chúng sanh, thì bao nhiêu việc làm, hay nhất cử nhất động đều từ đạo tràng mà ra”.

Khi Duy Ma Cật nói pháp ấy, năm trăm vị Trời và ngươi đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác.

Kế đến Phật bảo Trì Thế Bồ tát đến thăm bệnh Duy Ma. Trì Thế bạch Phật không kham lãnh đến thăm bệnh; vì nhớ lại lúc ngài ở tịnh thất, ma Ba Tuần đem mười hai ngàn Thiên nữ giống như Trời Đế Thích trỗi nhạc đàn ca, đến chỗ Trì Thế cúi đầu đảnh lễ. Trì Thế tưởng là Đế Thích thật, nên dạy chúng chớ nên buông lung, phải quán ngũ dục là vô thường để trồng cội lành, ở nơi thân mạng, tài sản mà tu pháp bền chắc. Ma vương bảo Trì Thế nhận mười hai ngàn Thiên nữ để dùng hầu hạ. Trì Thế không nhận.

Nói chưa dứt lời, thì Duy Ma đến bảo Trì Thế rằng đây không phải là Đế Thích. Họ là ma đến khuấy phá. Duy Ma lại bảo ma đem Thiên nữ cho ngài. Ma sợ hãi muốn biến nhưng không đi được, liền nghe trên hư không có tiếng nói rằng hãy đem Thiên nữ cho Duy Ma, mới đi được. Ma đành miễn cưỡng cho.

Lúc ấy, Duy Ma Cật bảo các Thiên nữ nên phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác, rồi ngài dạy họ các pháp vui để tự vui. Không nên vui theo ngũ dục. Vui thường tin Phật, vui nghe pháp, vui cúng dường Tăng, vui lợi ích chúng sanh, vui mở rộng tâm Bồ đề, vui với chánh pháp, vui tu vô lượng đạo phẩm, v.v…

Lúc ấy, ma Ba Tuần bảo các Thiên nữ trở về Thiên cung, nhưng họ không chịu theo về. Ma liền thưa với Duy Ma nên thả các Thiên nữ và Duy Ma bằng lòng. Các Thiên nữ hỏi Duy Ma họ phải làm gì ở cung ma. Duy Ma dạy họ pháp môn Vô tận đăng. Sau đó, Thiên nữ theo ma Ba Tuần về Thiên cung.

Kế đến, Phật dạy trưởng giả Thiện Đức hay Cấp Cô Độc đi thăm bệnh Duy Ma. Thiện Đức cũng không nhận đến thăm Duy Ma. Vì nhớ lại thuở trước, ông có lập hội đại thí trong bảy ngày để cúng dường cho tất cả Sa môn, Bà la môn, ngoại đạo, kẻ nghèo khó, cô độc và ăn xin.

Lúc ấy, Duy Ma đến nói với Thiện Đức rằng hội của ông không phải là đại thí hội. Phải lập hội pháp thí, lập hội tài thí làm gì. Và Duy Ma dạy Bồ tát Thiện Đức thế nào là hội pháp thí.

Hội pháp thí là cúng dường tất cả chúng sanh, không trước không sau, nghĩa là nhiếp tâm tham khởi bố thí Ba la mật. Vì độ kẻ phạm giới, khởi trì giới Ba la mật. Vì không ngã pháp, khởi nhẫn nhục Ba la mật. Vì rời tướng thân tâm, khởi tinh tấn Ba la mật. Vì tướng Bồ đề khởi Thiền định Ba la mật. Vì Nhứt thiết trí, khởi trí tuệ Ba la mật. Vì giáo hóa chúng sanh mà khởi ra Không. Vì độ chúng sanh, khởi pháp Tứ Nhiếp. Vì đoạn tất cả phiền não, tất cả chướng ngại, tất cả pháp bất thiện, khởi làm tất cả pháp trợ Phật đạo, v.v… Nếu Bồ tát trụ ở hội pháp thí là vị đại thí chủ, cũng là phước điền cho thế gian.

Khi Duy Ma Cật nói pháp ấy, hai trăm Bà la môn phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác.

Lúc đó, tâm của Thiện Đức thanh tịnh và ông đảnh lễ Duy Ma Cật. Ông mở chuỗi anh lạc dâng lên Duy Ma. Duy Ma lấy chuỗi anh lạc chia làm hai phần. Một phần cho người ăn xin hèn hạ nhất trong hội, một phần đem dâng cho Đức Nan Thắng Như Lai. Tất cả chúng hội đều thấy nước Quang Minh và Đức Nan Thắng Như Lai, lại thấy chuỗi anh lạc ở trên Đức Phật ấy biến thành đài báu.

Duy Ma Cật hiện thần biến xong nói rằng nếu người thí chủ dùng tâm bình đẳng bố thí cho một người ăn xin rất hèn hạ, xem cũng như tướng phước điền của Như Lai, không phân biệt. Lòng đại bi bình đẳng, không cầu quả bao. Đó là đầy đủ pháp thí.

Trong thành, những người ăn xin thấy thần lực và nghe lời nói ấy đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác.

II. GIẢI THÍCH

Phật nói pháp Thanh văn, nhưng mục tiêu chánh của Ngài nhằm hướng tâm họ qua lộ trình Bồ tát. Ngài đưa ra dụ ma ni để chúng Tăng thấy sự khác biệt giữa quả vị La hán của Thanh văn và La hán của Phật. Bên ngoài hai quả vị này giống nhau, nhưng bên trong hoàn toàn khác.

Tư cách La hán của Phật tác động cho người thanh tịnh, phát tâm Bồ đề, ví như ma ni để vô nước làm cho nước sạch. Trong khi La hán khác không tác động được như Phật, ví như thủy tinh bên ngoài trông giống ma ni, nhưng không thể làm nước trong.

Từ sự khác biệt đó, kinh Duy Ma muốn hướng dẫn chúng ta thay đổi tính chất bên trong, tức hướng chúng ta đến Bồ tát đạo. Tu theo Thanh văn chỉ là thay đổi hình bên ngoài rất dễ, nhưng không có tác dụng. Nói cách khác, hành giả phải đổi bản chất người thường thành bản chất người tu. Điều này đòi hỏi phải có quá trình dài, mà kinh thường xác định phải trải vô số kiếp tu đạo Bồ tát. Mỗi kiếp đổi tánh bên trong một ít.

Bồ tát đạo không nhứt thiết cần mang hình thức xuất gia. Làm vua thì phải thực hiện pháp Phật thế nào, làm dân phải tu ra sao. Trải qua đủ các ngành nghề trong những loại hình đều sống theo lời Phật dạy, cho đến khi thành Thầy tu, hành giả có đủ kinh nghiệm sống. Vì thế, de dàng điều động người, mà không bị họ tác động.

Nhân địa tu hành của Phật là Bồ tát hiệp trần. Nhân địa tu hành của Thanh văn là ly trần. Hai pháp này hoàn toàn khác nhau. Thanh văn tu tâm niệm thoát ly, trụ định, không biết rõ đối tượng thì làm sao giáo hóa độ người, nên không thể tác dụng vào cuộc sống con người. Trái lại, Phật nhập thế, qua lại trong sáu đường sanh tử, làm cha lành muôn loài. Vì vậy, đối với các loài, Phật biết rõ và đứng ở lập trường của họ mà hướng dẫn làm cho lợi lạc.

Đề cập đến Bồ tát, kinh Pháp Hoa nêu ra những hành động đơn giản như cúng dường một bông hoa nhỏ, hay cúi đầu trước Phật cũng là hạnh Bồ tát Hoặc nghịch hạnh như Đề Bà Đạt Đa, về sau cũng thành Phật.

Hạnh Bồ tát từ thấp đến cao có thể tánh tràn đầy. Đó là vấn đề quan trọng, hiểu đã khó và đem diễn tả cho người hiểu càng khó hơn. Ví như có người thấy tôi giảng kinh hay và nhờ tôi dạy cách giảng. Tôi dạy được, nhưng làm cho vị đó bằng như tôi, không được. Pháp này không thể diễn tả là như vậy. Dù giải thích nhiều đến đâu, cũng khó nói cho trọn vẹn việc làm của Bồ tát dẫn đến Phật quả. Phật dạy đại chúng pháp giống nhau, nhưng mỗi người tiếp thu, chứng quả khác nhau. Vì vậy, pháp chân thật không thể dùng lời lẽ chỉ được, nói ra là trở thành phương tiện. Mọi người nương pháp phương tiện tự hiểu, mà đã tự hiểu là hiểu theo ý riêng của chính mình, không thể giống người giảng.

Từ đó, hành giả phải biết học là phương tiện và pháp chân thật thì phải tự tu tự chứng. Kinh Duy Ma đã giới hạn những hạnh căn bản, hành giả nương theo đó tóm lược, giữ phần chánh yếu làm hành trang để điều chỉnh thân tâm. Và sau đó, từng bước va chạm với thực tế cuộc đời, trí giác phát sanh, mới hiểu thế nào là sự khó khăn của Bồ tát hành đạo.

Đệ tử Phật có ba hạng là Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Trong quá trình tu giới định huệ, huệ của Thanh văn là văn huệ, tức huệ thấp nhất. Do nghe, học mà phát huệ biết được. Tiến đến hàng Duyên giác đạt được sự hiểu biết do suy nghĩ, gọi là tư huệ. Và Bồ tát là người biết ứng dụng lời Phật dạy để giáo hóa chúng sanh có kết quả.

Tuy có ba hạng đệ tử, nhưng kinh Duy Ma xếp hàng Duyên giác chung với Thanh văn, nên ở đây chỉ đề cập đến Thanh văn và Bồ tát. Trong lúc tu hạnh Thanh văn, hành giả phải gạn lọc thân tâm trong sạch, loại bỏ thói hư tật xấu, trở thành người phạm hạnh, không tác hại người khác. Tu hạnh Thanh văn, hành giả chưa dám nghĩ đến giáo hóa người, mà chỉ lo tu dưỡng, phát triển khả năng, đạo đức thuần thiện của một Thanh văn La hán và từ đó bước qua Bồ tát đạo. Nếu không trải qua giai đoạn Thanh văn, mà thực hiện Bồ tát hạnh chỉ là Bồ tát giả danh.

Như vậy, với quá trình theo Phật nghe pháp, suy nghĩ và ứng dụng có kết quả, tạo thành chúng Bồ tát. Bồ tát này gọi là Bồ tát Tam thừa hay Bồ tát từ nhân hướng quả. Vì tu theo thứ tự từ Thanh văn tiến lên Duyên giác, Bồ tát và hướng về quả vị Phật, khác với Bồ tát Nhất thừa được nói đến trong phẩm thứ 5 chỉ cho Bồ tát từ quả đi ngược về nhân. Bồ tát Nhất thừa đã thành Vô thượng Đẳng giác vì thương nhân gian mà sanh lại, như Bồ tát Duy Ma từ thế giới Diệu Hỷ của Phật Vô Động hiện thân lại Ta bà.

Phẩm 4 chuyển mạch từ Thanh văn sang Bồ tát, đơn cử bốn vị gồm ba Bồ tát xuất gia và một Bồ tát tại gia. Tuy chia ra hai loại Bồ tát, nhưng kỳ thực chỉ là một. Đã là Bồ tát thì không thể đặt vấn đề xuất gia hay tại gia. Vì trên chân lý, bản thể đồng nhất, nhưng xuất hiện ở cuộc đời phải tùy hoàn cảnh, tùy thời gian làm những việc thích hợp. Chính vì lý do đó mà Bồ tát Quan Âm có ba mươi hai hiện thân. Tùy theo yêu cầu và hoàn cảnh, mà ngài hiện thân khác nhau, nhưng chung quy chỉ nhằm dẫn đến Nhứt thiết chủng trí.

Từ trước chúng ta quen thờ Tam bảo cực đoan, nên Tăng bảo chỉ có thể là hình tướng xuất gia giải thoát ly dục. Vì vậy từ Thanh văn chuyển sang tu Bồ tát cũng phải chuyển từ các vị Tăng tu hạnh Bồ tát. Nếu đưa ra mẫu cư sĩ tu Bồ tát sẽ bị chướng ngại, nên ba vị Bồ tát được đề cập trước tiên là Bồ Tát Thanh văn hay Bồ tát xuất gia. Sau mới đến mẫu Bồ tát tại gia là Thiện Đức Bồ tát hay Cấp Cô Độc.

Kinh Duy Ma đưa ra bốn vị Bồ tát tiêu biểu phạm phải những hành động sai lầm khi bước vào lộ trình Bồ tát và bị Duy Ma chỉnh lý. Ý này khiến chúng ta liên tưởng trên bước đường tu hành, mỗi khi tiến thêm một nấc, ta lại gặp khó khăn mới lớn hơn trước. Có sự chuẩn bị đạo phong và tư cách sẵn sàng đối phó với ma chướng như vậy, ta mới vượt được vô số chông gai nguy hiểm giăng đầy khắp nơi. Cho đến ngày chúng ta thành Phật, cũng chưa chấm dứt khó khăn.

Phật dạy đừng xây lâu đài trên cát. Nền tảng vững chắc của chúng ta là giới luật. Lúc sơ tâm, không nên để phạm lỗi lầm. Càng ít lỗi, ta càng dễ đi lên. Công lao tu hành tích lũy được, chỉ lỡ một bước thành tiêu tan. Người xưa ví như ruộng muối lâu ngày sắp dùng được, gặp một trận mưa trở thành bỏ đi. Tuy nhiên, ý thức được ma chướng không phải chỉ có trong hiện đời. Đời này chúng ta tu, nhưng túc nghiệp đời trước hiện lên khuấy phá, não loạn ta không ít. Ví như người trốn nợ bỏ quê đi xa, làm ăn vừa khá giả thì gặp lại chủ nợ cũ. Đối trước những ác duyên, Phật dạy Bồ tát không sợ qua, chỉ sợ nhân ác. Trong khi chúng sanh sợ quả báo xấu, nhưng thích làm việc ác. Quả báo đến, ta xem như thử thách để tiến tu đạo nghiệp.

Bốn vị Bồ tát bị chỉnh, được nêu đích danh là Di Lặc, Quang Nghiêm, Trì Thế và Thiện Đức. Bốn Bồ tát này làm thượng thủ của sáu mươi ngànBồ tát tham dự. Các ngài còn vấp phải sai lầm, huống chi chúng ta thuộc hàng sơ phát tâm.

Bốn vị Bồ tát lãnh đạo tiêu biểu cho tất cả hạnh Bồ tát từ khởi đầu đến kết thúc, không phải chỉ bốn người riêng biệt. Trong quá trình hành Bồ tát đạo, chúng ta sẽ tuần tự gặp bốn vị này. Hay nói cách khác, là bốn giai đoạn chúng ta tu đạo Bồ tát, bốn cấp bậc chuyển biến trong một con người.

Khi hàng đệ tử Thanh văn không kham nhận thăm bệnh, Phật dạy Di Lặc Bồ tát đến thăm bệnh Duy Ma. Ngài liền từ chối, vì đã từng chạm trán với Duy Ma. Di Lặc chịu thua Duy Ma, nghĩa là thua cuộc đời, hay đó chính là hình ảnh thua cuộc của đệ tử Phật sau khi Ngài Niết bàn.

Tôi rất phục ngài Di Lặc biết mình biết người, nên chịu thua trước. Điều này gợi cho chúng ta hiểu ý nghĩa hiện nay Di Lặc không xuất hiện, để mọi người mong chờ, còn hơn xuất hiện mà không giáo hóa được.

Trên thế gian, mỗi người có hoàn cảnh khó khăn riêng không tự giải quyết được. Từ đó phát sanh ý thức mong mỏi Phật ra đời trợ giúp. Các kinh Đại thừa đều chú ý đến mục tiêu này, gợi cho mọi người có tâm khát ngưỡng đối với Phật. Phật không xuất hiện trên cuộc đời, chờ cho chúng sanh có tâm mong cầu hướng về Ngài cao độ. Lúc ấy, tâm đại bi Phật hướng về chúng ta, hai tâm này nhập làm một. Trong phút giây thiêng liêng cầu nguyện, chúng ta mới nhận được Phật lực truyền đến làm tâm ta thanh tịnh. Đó là dạng giáo hóa bằng tâm của Phật, sau khi Ngài Niết bàn. Bồ tát cũng giáo hóa dưới dạng tâm.

Tuy nhiên, khi Phật tại thế, cách giáo hóa của Ngài như thế nào. Trong kinh ghi rõ Phật thuyết pháp, số người nghe áp dụng vào cuộc sống, đắc đạo đắc pháp không ít. Nhưng cũng có người không nghe Phật.

Một số người nghiên cứu đạo Phật lý luận rằng Phật có mười hiệu, nên giải quyết được tất cả. Vậy mà thực tế, họ thấy Phật không làm được gì, vì chúng sanh đau khổ vẫn còn nguyên. Theo tôi, tuy Phật giáo hóa tất cả mà vẫn còn nguyên chúng sanh đau khổ. Vì chính Đức Phật trước khi Niết bàn, Ngài khẳng định việc đáng làm Ngài đã làm, người đáng độ Ngài đã độ. Ngài đã giải quyết mọi việc tốt đẹp. Về điểm này chúng ta cần hiểu những gì Phật đã làm xong, hay cái độ tận chúng sanh của Phật. Phật xác định Ngài có ba điều làm được gọi là tam năng và ba điều không làm được là tam bất năng. Tam năng và tam bất năng gồm có:

- Phật không bị ràng buộc bởi các tướng. Ngài thấu triệt hết vạn pháp "được”, nhưng diệt định nghiệp ngay trong một lúc "không được”.

- Phật biết tất cả căn tánh chúng sanh và những việc lâu xa cùng tột ức kiếp "được”. Nhưng Ngài hóa độ chúng sanh vô duyên "không được”.

- Phật độ vô số chúng sanh "được”, mà độ tận thế giới chúng sanh "không được”.

Tam năng và tam bất năng của Phật có thể hiểu bằng thí dụ ông lương y chẩn bệnh xong cho đúng thuốc; nhưng bệnh nhân không chịu uống, không thể lành bệnh được. Không uống thuốc thì lương y cũng đành chịu thua. Công việc giáo hóa chúng sanh của Phật đã hoàn tất, giống như công việc của lương y đã cho thuốc hay. Việc uống thuốc để mạnh khỏe thuộc về chúng sanh. Ai uống tự lành. Không uống, thì cứ ôm bệnh gào khóc. Đơn giản như vậy thôi.

Thật vậy, chúng ta thấy rõ khi Phật tại thế, chúng đương cơ đắc độ khi nhìn thấy Phật. Họ tự giải thoát thanh tịnh ngay, Phật không cần nói. Nhưng đối với người cần nghe pháp, cần giáo dưỡng, trong hơn ba trăm pháp hội, Phật đã đưa họ đến quả vị thanh tịnh giải thoát. Như vậy, không thể phủ nhận Phật không độ chúng sanh. Tuy nhiên, những chúng sanh tham lam ghét ganh nghiệp nặng, Phật dạy rằng đối với họ, tên Tam bảo còn không nghe được. Đương nhiên họ không thể thấy Phật, không bước vào sống trong thế giới Phật được, nên không thuộc phạm vi giáo hóa của Ngài.

Thế giới Phật hoàn toàn thanh tịnh. Phật này chỉ cho Phật tâm. Khi tâm hành giả thanh tịnh, hướng trọn vẹn về Phật mới tương ưng với tâm của Ngài, mới thấy Ngài và nằm trong phạm vi giáo hóa của Ngài. Còn thế giới của nghiệp, của tham sân phiền não, của vọng thức, của chúng sanh, cứ để nó tồn tại. Không phải thành Phật rồi thủ tiêu các loài sinh vật trên thế gian. Điểm này cho thấy sự khác biệt giữa tâm đại bi của Phật và tâm của chúng ta.

Trong tứ sanh lục đạo, chúng ta binh vực loài này, lại rớt qua áp đảo, sát hại loài khác. Phật thể hiện lòng đại từ đại bi đối với muôn loài, Ngài không bị rơi vào thế cục bộ như chúng ta. Với tâm đại từ bi của Phật, tất cả mọi loài đều bình đẳng Nhứt Như, nên tất cả đều tồn tại. Sự hiện hữu đa dạng này không xóa. Không lẽ thành Phật rồi đoạn hết thế giới sanh diệt hay sao.

Trên lập trường siêu thoát, tất cả mọi vật tương quan tồn tại ở thế gian đều có cái hay, cái đẹp riêng của chúng. Mọi sự tồn tại theo kiến giải Đại thừa đều cần thiết, không phải tiêu diệt hết để chỉ còn một thứ, thì chán lắm!

Thế giới Phật vẫn hiện hữu trong thế giới sanh tử và thế giới sanh tử nằm trong tâm Phật. Vì vậy, trên giải thoát môn, không có chúng sanh nào nằm trong tâm Phật mà không giải thoát. Phật hoàn toàn bình đẳng, thanh tịnh giáo hóa. Cho đến người khổ đau cùng cực ở địa ngục A tỳ khi phát tâm nghĩ đến Phật, cũng hết đau khổ, được an vui ngay.

Chúng ta còn nhớ hình ảnh Vô Não quăng dao, quỳ dưới chân Phật, liền đắc La hán, giải thoát tức thời. Sự giáo hóa của Phật như vậy không vạn năng hay sao. Tại sao Vô Não giải thoát, đắc La hán dễ dàng như vậy. Chúng ta phải biết tâm trạng Vô Não lúc gặp Phật, mới nhận ra được ý nghĩa giải thoát của Đại thừa. Nếu giải chung chung rằng Vô Não quăng dao thành La hán, thì tất cả sát nhân khác quăng dao cũng thành La hán ư. Việc đó tất nhiên không thể có. Những sát nhân khác quăng dao không thành La hán nằm trong phạm vi "Bất năng” của Phật.

Phật khẳng định đối với người không có duyên đắc độ, Ngài cũng không độ được; vì càng nói nhiều, tâm thức càng phát triển, đi sâu vào rừng rậm tà kiến. Chỉ có tâm hồn chí đạo, mới được Phật khai ngộ. Cách giáo hóa của Bồ tát cũng ở dạng này.

Di Lặc thưa với Đức Thích Ca rằng không dám gặp Duy Ma, hay nói lên ý nghĩa "Bất năng”, độ hết không được. Trong lòng Từ vô lượng của Di Lặc làm gì có chúng sanh đau khổ. Đau khổ và thanh tịnh của chúng ta được h