cool hit counter

I. LƯỢC VĂN KINH

Khi Đức Phật đang nói pháp ở vườn Yêm La, vườn bỗng nhiên trở nên rộng rãi xinh đẹp vô cùng, thoảng mùi hương lạ. Đức Phật bảo A Nan rằng Duy Ma Cật và Văn Thù Sư Lợi cùng đại chúng sắp đến ra mắt Phật, nên hiện điềm lành này.

Bấy giờ Duy Ma Cật dùng sức thần thông, đem đại chúng và các tòa sư tử để trên tay phải đi đến chỗ Phật, đặt các Bồ tát xuống. Duy Ma và các Bồ tát này đều cúi đầu lễ dưới chân Phật, đi quanh bên phải bảy vòng rồi ngồi một phía.

Lúc đó, A Nan hỏi Phật mùi hương thoảng ra là mùi hương gì. Xá Lợi Phất trả lời rằng đó là trưởng giả Duy Ma Cật xin cơm thừa của Phật ởnước Chúng Hương đem về ăn nơi nhà ông, nên tất cả lỗ chân lông đều bay mùi hương như thế.

Tiếp theo, Duy Ma giảng cho A Nan rằng người muốn tu giải thoát sanh tử ăn cơm này, chứng được Sơ quả thì mùi hương mới hết. Tuần tự như vậy cho đến Bồ tát ở hàng bất thoái chuyển đạt đến quả vị Phật, thì mùi hương mới hết. Ví như uống vị thuốc hay, khi nào vi trùng bị tiêu diệt, thuốc mới tan. Pháp này cũng có công dụng như vậy.

Sau khi A Nan tán thán pháp của Duy Ma vừa giảng nói, Phật dạy A Nan rằng Đức Phật mười phương thuyết pháp giáo hóa chúng sanh, làm những việc khác nhau. Tùy theo mỗi thế giới mà các Ngài nói pháp khác nhau. Có thế giới dùng hương giáo hóa, có cõi lấy cơm ăn giáo hóa, hay có thế giới dùng ngôn ngữ giáo hóa, v.v… Chư Phật làm được như vậy không có hạn lượng. Trí tuệ biện tài của các Ngài không thể nghĩ bàn. Thiền định của Bồ tát cũng vậy, không thể đo lường được, không thể nói hết được.

Bấy giờ, Bồ tát ở nước Chúng Hương đến bạch Phật ở cõi Ta bà tu hành như thế nào. Đức Phật Thích Ca dạy cho Bồ tát ở nước Chúng Hương pháp môn Tận và Vô tận giải thoát, hay thế nào là Bồ tát bất tận hữu vi và bất trụ vô vi.

Nghe xong, Bồ tát của nước Chúng Hương vui mừng, rải hoa thơm khắp tam thiên đại thiên cúng dường Phật và kinh này, rồi lễ Phật trở về nước Chúng Hương.

II. GIẢI THÍCH

Phẩm Hương Tích nói về thế giới Niết bàn giải thoát của Phật và phẩm Bồ tát đạo nói về việc làm của Bồ tát trên cuộc đời, phải sinh hoạt như thế nào để tương thông với Đức Phật ở thế giới Phật.

Sự liên hệ mật thiết giữa thế giới Niết bàn và thế giới Ta bà, hay nói cách khác, sự hóa độ của Đức Phật trên nhân gian và việc làm của Ngài ở thế giới giải thoát Niết bàn, được thể hiện trọn vẹn trong cuộc đời hành đạo của Đức Phật Thích Ca.

Nhìn lại khi Đức Phật tại thế, chúng ta thấy Ngài đã giáo hóa ở hai mặt. Một mặt giáo hóa với tư cách sanh thân và một mặt giáo hóa dưới dạng Pháp thân.

Sanh thân Phật có chúng Thanh văn tùy tùng, mang thân tứ đại ngũ ấm. Dưới dạng này, Ngài sử dụng sanh thân để giáo hóa sanh thân. Từ Bồ đề đạo tràng đến Lộc Uyển thuyết pháp, Đức Phật được xem như một La hán và năm anh em Kiều Trần Như cũng là La hán. Đến khi giáo đoàn phát triển, trong các vị La hán, có những vị vượt trội lên như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, v.v… Nói chung, những đại đệ tử của Phật được gọi là đại La hán. Nhưng so với La hán Thích Ca, các ngài không sánh kịp.

Ngoài phần thuyết pháp giáo hóa bằng sanh thân mà chúng ta có thể thấy nghe cảm nhận được, Phật còn có mặt thứ hai không thấy nghe, không dùng tâm lượng biết được. Chẳng những không giải thích được, mà còn không hiểu được, gọi là bất tư nghì. Phần bất tư nghì là pháp học của Bồ tát.

Bồ tát khao khát suy tư, phát huy mặt không giải thích được. Tại sao Đức Phật là người, ta cũng là người mà tác dụng của Ngài lại vô cùng tận vậy. Cảm nhận lực chi phối vô song từ nơi Phật toát ra, dù Ngài thuyết pháp hay yên lặng, ta cũng không thể nào hiểu được Phật. Kinh Pháp Hoa nói rõ hàng Bồ tát trở xuống không thể thấu tột việc làm của Như Lai, vì Như Lai thấy đúng như thật. Còn chúng sanh dán chặt đôi mắt bằng cặp kính nghiệp.

Sự tác dụng giữa Phật với Thanh văn là tác dụng qua hiện thực cuộc sống. Và tác dụng giữa Phật và Bồ tát thuộc siêu thực hay giữa thế giới hiểu được và thế giới chưa hiểu được.

Bồ tát phát tâm tu Bồ tát đạo mang khát vọng tìm chân lý, bắt đầu đi vào thế giới chưa hiểu để tìm điều kiện tăng trưởng trí tuệ, để rồi cuối cùng cũng đạt được sự hiểu biết chính xác. Bồ tát là người mang chí lớn. Tuy nhiên, chí lớn của Bồ tát không giống mẫu người mang chí lớn của thế gian. Quán sát thấy rõ những gì trên cuộc đời đều trôi theo dòng sanh diệt, nên chí Bồ tat không đặt vào đây. Các ngài đăt mục tiêu nằm ngoài sanh diệt, cầu thành Phật, đạt Nhứt thiết trí.

Phẩm này nói về tư cách của Bồ tát. Bồ tát lấy Phật làm đối tượng kiểu mẫu, làm hướng đi lập chí tiến thủ để đạt thế gian giải, hiểu tất cả cuộc đời và hiểu cả thiên nhiên, điều động nó một cách tự tại.

Muốn thành Phật là muốn giải quyết được những việc mà người bình thường không giải quyết được, khác với Thanh văn an phận ở Niết bàn. Còn tục chúng tham lam ghét ganh đầy đủ, đương nhiên bỏ ra ngoài.

Trước khi chỉ dạy tư cách và việc làm của Bồ tát, Đức Phật giới thiệu Phật Hương Tích và thế giới Chúng Hương. Đó là mẫu lý tưởng của người mang chí lớn và cũng là ước mơ của chúng ta hướng tâm về Ngài để lập chí đi lên.

Muốn đạt đến quả vị của Phật Hương Tích, chúng ta phải tích lũy học vấn và phước đức. Kinh Bát Đại Nhân Giác nói rõ điều mà chúng ta cần giác ngộ rằng ngu si là nguồn gốc của sanh tử. Chúng ta không biết lối thoát để đi ra, sanh và chết lang thang vô định, chui đủ vào các loài trong tứ sanh lục đạo. Vì vậy, Bồ tát thường niệm học rộng nghe nhiều, học với các đấng giác ngộ giải thoát. Kinh Pháp Hoa dạy rõ tất cả Bồ tát nổi tiếng đều thân cận các Đức Phật học rộng nghe nhiều để tăng trưởng trí tuệ. Mức độ thấy gần đúng sự thật chừng nào, gần đến giải thoát chừng nấy.

Thấy rõ sự việc, nhưng trình bày cho người khác hiểu được, là vấn đề khó hơn. Chúng ta tu hành phần nhiều vấp phải lỗi lớn rất nguy hiểm, thường hiểu khác ý Phật dạy. Hiểu và làm đúng lời Phật dạy, thì trở thành Bồ tát, hay Phật. Hiểu khác mà tiến tu, hành giả sẽ bước vào con đường sống khổ chết đọa. Dù tu suốt đời, vẫn không hưởng được chút hương vị giải thoát, vì cố chấp trong vỏ cứng, tự làm những việc mà mình cho là pháp, nhưng kỳ thực phi pháp. Thí dụ như Duy Ma chỉnh Ưu Ba Ly hiểu sai ý nghĩa giới luật của Phật. Phật chế giới nhằm ngăn chặn tội lỗi, làm cho người giải thoát. Ngài tùy người, tùy chỗ mà chế giới, không phải chế giới tràn lan. Đối với đệ tử có trình độ đạo đức tri thức, Ngài không cần dạy bảo lặt vặt; nghĩa là đối với thanh tịnh Tăng, không có giới. Giới được đặt ra vì có đối tượng chúng sanh ở trình độ hạ đẳng; nếu không ngăn cấm, họ sẽ làm sai và bị đọa.

Điều chính yếu trên bước đường hành đạo Bồ tát, chúng ta phải phát triển trí tuệ để có một cái nhìn xác thực giống Phật. Từ đó, ta dùng trí tuệ rọi vào lòng cuộc đời, nhắm đúng đối tượng để khai tri kiến. Họ phát tâm Bồ đề, sống an lành giải thoát và sự an lành giải thoát của họ chính là sự an lành giải thoát của chúng ta.

Trong phẩm này, Duy Ma rủ Văn Thù Sư Lợi đến ra mắt Đức Thích Ca. Duy Ma tiêu biểu cho bản tâm thanh tịnh được trí tuệ Văn Thù rọi sáng, mới diện kiến được Thích Ca Như Lai. Ta chưa thanh tịnh, trí không sanh, thì giữa Phật và ta cách nhau muôn trùng vạn dậm.

Khi Duy Ma và Văn Thù cùng đại chúng khởi niệm tới thăm Đức Thích Ca ở vườn Yêm La, cảnh vườn bỗng đổi khác, trở nên rộng lớn và xinh đẹp lạ thường, thoảng mùi hương lạ. Hiện tượng này có thật hay không, thì tùy ở độ cảm của từng người mà tự chứng biết. Riêng tôi, trên bước đường tu hành, cũng có những sự cảm nhận tương tự. Có lúc lên chánh điện nhìn tượng Phật thấy ảm đạm làm sao. Có lúc lại thấy lâng lâng nhẹ nhàng thanh thoát, dường như chùa trải rộng thêm ra, sáng lên thêm. Lúc ấy, tôi tụng kinh say mê không biết mệt, muờng tượng như cảnh giới hôm nay có chư Phật phóng quang và Hộ pháp đến nghe pháp.

Theo tôi, cảnh có một, nhưng tình có hai. Từ tâm niệm ta trải ra bên ngoài và cảnh giới bên ngoài ảnh hưởng tác động ngược lại ta. Vì vậy, dù chỗ có hẩm hiu đến đâu mà hành giả mang tâm niệm giải thoát, chỗ đó là Niết bàn. Dù nơi cao sang nhưng đầy dẫy tranh chấp, thù hận, giết người, nơi đó biến thành địa ngục. Địa ngục hay Niết bàn là tùy theo tâm mà hiện thành.

Sự kết hợp giữa Văn Thù và Duy Ma thể hiện sự thành tựu hài hòa tâm thanh tịnh và trí sáng suốt, được cụ thể hóa bằng hình ảnh vườn Yêm La sáng rộng thêm. Đối với tôi, những ai đã thâm nhập vào thế giới tu hành, với niềm tin tôn giáo, thường bắt gặp những cảm giác man mác nằm ngoài phần tri kiến của chúng ta. Chỉ có Đức Như Lai hoàn toàn giải thoát, không còn chướng ngại về hữu hình và vô hình, mới thấy được sự thật, giải đáp được lý bất tư nghì này.

Mùi hương từ nơi Duy Ma tỏa rộng trong vườn Yêm La và cảnh giới sáng đẹp thêm tiêu biểu cho sự hiện hữu của cao Tăng ở nơi nào, thì nơi đó hạnh phúc an vui. Trong quá trình hành đạo, chúng ta dễ kiểm nhận điều này. Tôi tham quan nhiều chùa thấy âm u lạnh lẽo, Phật ngồi yên đầy bụi bám, Pháp bảo rêu phong chất đầy tủ, không ai đọc. Nhưng nếu có Bồ tát Duy Ma, hay danh Tăng đến đó tu, cảnh chùa tự sáng đẹp ra. Đó là ý nghĩa Phật dạy rằng các Bồ tát đến đâu, chỗ đó phải an lành. Nếu đến làm cho ảm đạm thê lương, đừng đến còn hơn. Chúng ta nhìn kỹ cuộc sống thấy rõ kinh và Phật muôn đời không thay đổi, nhưng nếu vị Trụ trì có đức hạnh tài năng thì chùa sẽ tự sáng.

Duy Ma và Văn Thù tiêu biểu cho Bồ tát đạo hay trí tuệ sáng suốt và tình thương kết hợp trong một vị Trụ trì. Được như vậy, sinh hoạt đạo pháp ở chùa đó tất nhiên phải phát triển, khác với nếp sống của người bảo thủ cố chấp.

Đạo không thể sinh tồn nếu giáo pháp nằm yên trong tam tạng kinh điển. "Đạo yếu Tăng hoằng”, hay nói đúng hơn là khi trí Văn Thù và tình thương Duy Ma kết hợp trọn vẹn trong bậc chân tu mới làm sáng đẹp cuộc đời, làm cho đạo pháp tỏa hương thơm ngát.

Phật vừa trả lời cho A Nan biết hôm nay có Duy Ma và Văn Thù cùng Bồ tát mười phương muốn đến ra mắt Như Lai, nên phong cảnh đổi khác. Duy Ma liền dùng sức thần thông đem đại chúng và tòa sư tử để trên tay phải. Ngài đi thẳng tới vườn Yêm La nơi Đức Phật đang thuyết pháp, đi quanh Phật bảy vòng.

Thiết nghĩ câu chuyện siêu tự nhiên này ngầm bao hàm một ý nghĩa gì, là điều chúng ta cần tìm hiểu. Nếu hiểu theo giáo nghĩa Đại thừa lấy tâm làm chính: "Chế tâm nhất xứ vô sự bất biện”, thì hành giả trụ tâm sẽ trở thành vạn năng, làm được tất cả.

Duy Ma nghĩa là tịnh tâm. Ý nghĩa tịnh tâm này trùng hợp với ý nghĩa "Chế tâm nhất xứ”. Nhờ tập trung tâm, mới tạo được sự linh hoạt. Tuy tâm vô hình, nhưng có khả năng bao trùm cả muôn loài. Khéo vận dụng được tâm, hành giả chi phối cả hữu tình và vô tình thế giới. Chi phối hữu tình nghĩa là dùng tâm ảnh hưởng đến người liên hệ, tác động cho họ chấp nhận được ta. Và muốn hiểu được sự chi phối vô tình khí thế giới như thế nào, ta quan sát ở lãnh vực khoa học và quan sát dưới dạng Chánh Biến Tri. Chúng ta thấy rõ sự tập trung tư duy của các nhà bác học để khám phá ra nguyên lý, chẳng qua chỉ là sử dụng tâm con người. Và tập trung tâm đến mức cao độ như Đức Phật, khám phá được quy luật tự nhiên. Nắm quy luật này, tất yếu chuyển đổi được muôn sự muôn vật theo ý muốn.

Hiện tượng Bồ tát Duy Ma đặt toàn bộ Bồ tát lên cánh tay phải của ngài rồi đem về ra mắt Thích Ca mang ý nghĩa gì. Bồ tát đi theo Duy Ma không phải mang xác thân người. Phải hiểu đó là Bồ tát hạnh, tức là tất cả việc làm tốt của Bồ tát trên cuộc đời gắn liền với cuộc sống của các ngài, tạo thành quyến thuộc bất khả phân.

Việc làm thánh thiện của Duy Ma từ vô lượng kiếp tiêu biểu bằng cánh tay phải. Cánh tay phải của Duy Ma mang Bồ tát đến vườn Yêm La, theo tôi hiểu, Duy Ma đã giáo dưỡng tế độ cho họ vô số kiếp, là bàn tay nhấc chúng nhân lên quả vị Bồ tát. Vì vậy, Duy Ma đến với Phật, thì chắc chắn quyến thuộc của ngài cũng đến theo.

Bồ tát này là Bồ tát hạnh phát xuất từ tình thương cộng với khả năng hiểu biết, đưa đến việc làm l