cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển II - Lược Giải Kinh Pháp HoaHT THÍCH TRÍ QUẢNG


Sách / Trí Quảng Toàn Tập - Quyển II - Lược Giải Kinh Pháp Hoa / Phẩm 6: Thọ ký

Lần nghe: 33.977

I. LƯỢC VĂN KINH

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo đại chúng: "Ma ha Ca Diếp trong đời vị lai sẽ phụng thờ, cúng dường, cung kính tôn trọng, ngợi khen, giảng nói vô số giáo pháp của ba trăm muôn ức Phật. Và ở thân sau cùng sẽ thành Phật hiệu là Quang Minh, nước tên Quang Đức, kiếp tên Đại Trang Nghiêm. Đức Phật Quang Minh thọ mười hai tiểu kiếp, chánh pháp trụ thế hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng vậy.

"Thế giới Phật Quang Minh tốt đẹp, không có gai góc, đất bằng lưu ly, cây báu thẳng hàng, dây vàng giăng bên đường, hoa báu rải khắp nơi và mọi chỗ đều trong sạch. Trong nước đó, Bồ tát và Thanh văn đông vô số. Tuy có ma và dân ma, nhưng họ không làm việc xấu ác mà chỉ hộ trì Phật pháp”.

Khi Phật nói xong, Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề, Đại Ca Chiên Diên đều chắp tay bạch Phật rằng: "Nếu Ngài thấu hiểu thâm tâm chúng con, xin Ngài thọ ký cho chúng con. Chúng con như kẻ đói được cho ăn, mà chưa dám ăn. Dù Phật đã nói tất cả sẽ thành Phật, nhưng chưa được Ngài thọ ký, lòng chúng con vẫn còn lo sợ nghi ngờ”.

Đức Phật biết tâm niệm của các vị đại đệ tử này liền nói với Tu Bồ Đề: "Trong tương lai, Tu Bồ Đề sẽ phụng thờ, cúng dường các Đức Phật, tu hạnh thanh tịnh, đủ đạo Bồ tát. Và ở thân cuối cùng sẽ thành Phật hiệu Danh Tướng Như Lai, Ứng cúng Chánh đẳng giác. Thế giới cũng tốt đẹp như thế giới của Phật Quang Minh. Đức Phật Danh Tướng thọ mười hai tiểu kiếp, chánh pháp và tượng pháp đều trụ hai mươi tiểu kiếp”.

Tiếp theo, Đức Phật thọ ký cho ngài Ca Chiên Diên trong tương lai thành Phật hiệu Diêm Phù Na Đề Kim Quang, sau khi ông cúng dường Phật, xây dựng và cúng dường tháp miếu đầy đủ đạo hạnh Bồ tát. Đức Phật thọ mười hai tiểu kiếp. Thế giới trang nghiêm thanh tịnh như hai vị trên.

Và sau cùng, ngài Mục Kiền Liên cũng được Phật thọ ký. Trong tương lai, trải qua quá trình cúng dường chư Phật và xây dựng tháp miếu sẽ thành Phật hiệu là Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Như Lai Ứng cúng Chánh đẳng giác. Kiếp tên Hỷ Mãn, nước tên Ý Lạc. Đức Phật thọ hai mươi bốn tiểu kiếp, chánh pháp và tượng pháp đều trụ ở đời bốn mươi tiểu kiếp. Thế giới cũng trang nghiêm như các vị trên.

 

II - GIẢI THÍCH

Trong phẩm Thí Dụ, Đức Phật đã thọ ký cho Xá Lợi Phất là người trí tuệ bậc nhất, nhưng chỉ thọ mười hai tiểu kiếp. Trong khi các vị La hán kế tiếp và những hàng đệ tử đang tu học là những người chưa đắc A la hán lại được thọ vô lượng kiếp. Tại sao quả báo của những người được thọ ký trước nhỏ hơn những người sau.

Chúng ta nhớ lại trong phẩm Phương Tiện, Đức Phật dạy những gì Ngài nói và làm trên cuộc đời mà chúng ta nhìn thấy được, không phải chân thật. Tất cả đều là phương tiện độ chúng sanh rời bỏ tâm chấp trước để tiến tới Vô thượng giác. Với trí tuệ của bậc Chánh biến tri, Đức Phật nói pháp tương ưng với tâm niệm chúng hội. Trước khi Ngài nói kinh Pháp Hoa, chỉ có Bồ tát được thọ ký thành Phật; vì Bồ tát được xem như người từ miệng Phật sanh ra, từ pháp hóa sanh, được pháp phần Phật, mới đủ tư cách và khả năng thành Phật.

Đức Phật dùng phương tiện xác định sự bình đẳng của mọi người khi nước mắt cùng mặn, máu cùng đỏ. Nhưng nếu đột nhiên mà Ngài dẹp bỏ hoàn toàn bộ luật cay nghiệt phân chia giai cấp và quyền tập ấm có từ lâu đời, mọi người khó chấp nhận nghe theo. Đức Phật là bậc thấy đúng, nói đúng lúc, đúng chỗ. Vì vậy, đối trước quan niệm nặng về thừa kế theo huyết thống "Con vua mới được làm vua”, Ngài thuận theo pháp thế gian dạy rằng chỉ có Bồ tát sẽ thành Phật. Còn Thanh văn không phải Phật tử, không thọ ký cho Thanh văn thành Phật được, giống như con của dòng họ thường dân không làm vua được.

Vì thế lần đầu tiên Đức Phật thọ ký cho Bồ tát và duy nhất chỉ có Bồ tát Di Lặc thành Phật, vì con vua thì chỉ có một người được làm vua. Các Bồ tát là con đấng Pháp vương và Bồ tát Di Lặc giống Phật, gần Phật nhất, vì thừa kế tâm Từ của Đức Phật Thích Ca. Ngài ở đúng vị trí của Phật Thích Ca nơi Đâu Suất nội viện, làm đúng việc của Phật Thích Ca làm, nhập được Từ tâm Tam muội, phổ cập lợi ích cho tất cả muôn loài. Ngài được chọn lựa và thọ ký thành Phật là điều tất yếu, không gây thắc mắc nghi ngờ.

Ở giai đoạn trình độ chúng hội còn thấp, Đức Phật chỉ giới thiệu Bồ tát Di Lặc là người thừa kế mà hàng Thanh văn không hề biết. Nhưng đến thời giáo hóa chuyển từ Tiểu sang Đại của kinh Duy Ma, vấn đề thọ ký được hiểu sâu sắc hơn dưới dạng khác.

Duy Ma chất vấn Di Lặc được Đức Phật thọ ký một đời thành Phật, một đời này là đời nào. Theo Duy Ma, một đời đối với quan niệm thế gian là một lần sanh, một lần chết. Nếu thọ ký thành Phật chỉ có như vậy, Duy Ma chẳng mong được thọ ký.

Thọ ký một đời là đời trên sanh diệt hay trên pháp tánh. Trên sanh diệt môn luôn biến đổi, có gì đáng cho hành giả xuất trần quan tâm, nên thọ ký trên dạng sanh diệt trở thành vô nghĩa. Nói cách khác, làm Phật ở thế giới sanh diệt, Duy Ma không muốn làm. Trái lại, đứng trên bất sanh bất diệt thọ ký thì cần gì thọ ký. Vì bản thể vốn vô sanh, bản lai diện mục của ta từ nghìn xưa cho đến ngày nay và mãi đến nghìn sau không thay đổi. Ở trên pháp tánh thì Duy Ma, Di Lặc, Thích Ca và tất cả mọi người đều là Phật.

Từ sự thắc mắc gợi ý của Duy Ma, trước khi Niết bàn, Đức Phật thọ ký ở hội Pháp Hoa để giải quyết vấn đề tồn tại cho hàng trí thức. Vì vậy vấn đề thọ ký có ba cấp. Cấp thứ nhất xác định chỉ có Di Lặc làm Phật, điều này biểu hiện rõ nét Đức Phật ứng theo pháp thế gian và tâm lượng con người bấy giờ mà nói.

Đến hội Pháp Hoa, Đức Phật quán thấy đã đúng thời tiết nhân duyên nói lên sự thật rằng hàng Thanh văn cũng thành Phật. Và Ngài chọn Xá Lợi Phất là bậc thượng thủ trong đại chúng để thọ ký. Vì Xá Lợi Phất tu tập Thiền định, hạ thủ công phu phá vỡ được cái vỏ phân biệt dày đặc từ bao đời của ý thức trên hiện tượng giới, thấy được ngài cũng như Di Lặc, Phật và chúng sanh đồng một thể, nên xứng đáng được hưởng sự bình đẳng thọ ký.

Khi quan sát tâm trạng đại chúng nửa mừng nửa sợ trước việc Xá Lợi Phất được thọ ký, Đức Phật biết họ đã có chiều hướng tiến bộ, có khởi lên ý niệm hy vọng làm Phật. Khác với trước kia, họ nghĩ rằng được làm dân trong nước Phật đã quá đủ, hay an phận với quả vị La hán trọn yên lành rồi, không ước mơ gì hơn và cũng không dám mong thành Phật. Vì vậy, Đức Phật tiếp tục thọ ký cho bốn vị thượng thủ đầy đủ oai đức là Ca Diếp, Ca Chiên Diên, Tu Bồ Đề, Mục Kiền Liên và các vị Thanh văn khác.

Đến sự thọ ký ở mức độ thứ ba dành cho tất cả hành giả sau khi Đức Phật diệt độ, được Ngài xác định trong phẩm thứ 10 rằng những người đời sau nghe kinh Pháp Hoa một bài kệ một câu cho đến một niệm tùy hỷ, Ngài đều thọ ký. Tất nhiên chúng ta là người nhận lãnh sự thọ ký ở dạng này.

Đến đây vấn đề thọ ký mà Duy Ma thắc mắc đã được giải quyết. Thọ ký ở pháp tánh mới là thọ ký thật. Lặn sâu vào pháp tánh, ai cũng thành Phật. Trên pháp tánh, ta là Phật đã thành, nhưng ở trên pháp tướng ta là Phật sẽ thành. Nhận sự thọ ký là nhận ở bản thể, nhưng tu hành trên phương tiện. Vì vậy, hành giả phát tâm Bồ đề phải phát từ bản thể và từ bản thể hiện lên nhân gian sanh diệt hành đạo.

Dung hòa được cả hai mặt này, hành giả mới thấy chân lý, mới thành Phật. Ý này được Duy Nhiên Thiền sư diễn tả trong bài Sám Quy Mạng: "Bất xả pháp giới, biến nhập trần lao”. Nghĩa là hiện hữu trên cuộc đời nhưng tâm không rời bản thể, làm mọi việc đều vì lợi ích cho tha nhân. Như Đức Phật Thích Ca giáo hóa tùy người, tùy chỗ, tùy thời để khơi dậy tâm Bồ đề cho người. Nhờ tâm luôn sống với pháp tánh, sống trong tình thương của Đức Phật, dù có biến cố gì xảy ra cũng không chi phối tâm hành giả. Đạt được như vậy, hành giả mới đủ sức làm đạo trong cõi Ta bà ác trược này.

Trở lại vấn đề một cách chi tiết hơn, tại sao Đức Phật không thọ ký cho hàng Thanh văn. Chúng ta thường nghĩ Đức Phật thọ ký nghĩa là gia hộ cho người đó và Ngài sẽ rước lên Niết bàn.

Theo tinh thần Phật giáo Nguyên thủy, Đức Phật là vị đại Đạo sư tìm ra chân lý, mang nếp sống lý tưởng này dạy chúng ta. Chúng ta muốn thành Phật phải đi theo lộ trình mà Ngài đã đi, làm những việc Ngài đã làm. Từ đó, Phật giáo Đại thừa căn cứ vào lời Phật dạy đào tạo con người vô ngã vị tha, xây dựng đất nước trù phú an vui cho đến bằng với Phật, cùng sống trong Phật quốc thanh tịnh. Điều này khác với tinh thần yếm thế tiêu cực của Thanh văn là xa lánh cuộc đời, không nghĩ tới sinh hoạt xã hội. Vì thế, dưới nhãn quan của Đại thừa, Thanh văn là người tiêu nha bại chủng, nghĩa là hạt giống chết nên không lên cây. Nói cách khác, hàng Nhị thừa không được làm Phật, vì họ không có ý muốn làm Phật, ví như ông thầy thuốc giỏi cũng không thể nào cứu được người muốn chết. Trong khi Bồ tát hiện tại chưa thành Phật, nhưng tương lai sẽ thành Phật. Vì đời đời kiếp kiếp các ngài nuôi dưỡng ước vọng thành Phật một cách nhiệt tình và thể hiện ý chí đó bằng cách tích cực nhập thế, đem hết khả năng xây dựng cho mình và tha nhân cùng thăng hoa.

Tuy nhiên, đến khi nhận thấy hàng Thanh văn từ bỏ tâm Tiểu thừa, hướng về Đại thừa, phát tâm Bồ đề, Đức Phật mới dạy phương cách làm Phật. Bốn vị Ca Diếp, Mục Kiền Liên, Ca Chiên Diên và Tu Bồ Đề tiêu biểu cho hàng Thanh văn hồi tâm phản tỉnh, cảm nhận được Tam thừa mà Đức Phật trao cho chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là dìu dắt những người khổ trong tam giới ra khỏi sanh tử đến Niết bàn. Và Niết bàn này chỉ là Niết Bàn tạm; vì bỏ thực tế không dính líu cuộc đời, đời sẽ để ta yên, sự bình yên này có tính cách giả tạm. Đức Phật dạy muốn xây dựng con đường an lành vĩnh cửu, hành giả không thể đi ngoài lộ trình Bồ tát đạo.

Đức Phật xét thấy sự nhận thức của đệ tử Thanh văn hiện nay khác với tâm niệm chán đời khi còn ở Lộc Uyển hay thành Xá Vệ, vì các ngài đã qua quá trình hai mươi năm gạn lọc tâm. Tâm hồn bình ổn, tích lũy ít nhiều công đức, bắt đầu hiểu Phật, gần Phật, muốn làm theo Phật và hướng thượng cầu Bồ đề. Bấy giờ Đức Phật mới dìu dắt chúng Thanh văn đi lên, vẽ ra con đường tiếp cận giáo hóa chúng sanh, hành Bồ tát đạo để thành Phật và thọ ký cho các ngài.

Thiên Thai Trí Giả gọi phần này là Nhị thừa đắc ký. Trước kia hàng Thanh văn chưa phát tâm Bồ đề, không muốn thành Phật, hay họ chưa có tâm thương chúng sanh, chưa hề nghĩ đến giáo hóa chúng sanh, huống chi là làm công việc giáo hóa. Tất cả tâm niệm này của Thanh văn không tương ưng với lòng từ bi bao la và công hạnh xả kỷ vị tha của Đức Thế Tôn. Làm thế nào Ngài thọ ký cho Thanh văn được. Tuy nhiên, Đức Phật dạy rằng mặc dù tu hạnh Thanh văn, kỳ thực là nhân Bồ tát. Vì nếu không có Phật ra đời, các vị này là Thanh văn không có tâm hướng thượng, nhưng dưới sự chỉ dạy của Đức Phật, hạnh Thanh văn của các ngài đã chuyển thành Bồ tát hạnh. Thật vậy, hình dáng và cuộc sống của Thanh văn giống như Đức Phật, gợi cho người nhìn thấy tưởng nghĩ đến Phật và trở về quy y với Phật. Như vậy, Thanh văn tuy mang tâm niệm tiêu cực vẫn gián tiếp đóng vai trò giáo hóa chúng sanh như Bồ tát.

Sự thật hành giả theo Phật nghe pháp, thâm nhập và sống với pháp được, đương nhiên giữa hành giả và Phật có mối liên hệ sâu xa. Cho nên nghe, học và sống với pháp Phật, tất yếu phải thành Phật. Pháp Thanh văn, Duyên giác chỉ là phương tiện giáo hóa của Phật mà thôi.

Điều kiện thành Phật của bốn vị đại đệ tử Ca Diếp, Mục Kiền Liên, Ca Chiên Diên và Tu Bồ Đề cùng năm trăm vị A La Hán giống như của Xá Lợi Phất trước đây, nhưng không đồng với chúng ta. Vì các ngài đi theo đường vòng qua ba a tăng kỳ kiếp mới đắc đạo. Giai đoạn một, các ngài tu Thanh văn chứng quả vị La hán, ra khỏi Nhà lửa tam giới, ví như giai đoạn chúng ta học xong rời khỏi nhà trường.

Giai đoạn hai, phát tâm Bồ đề, tập sự làm việc và đến giai đoạn chính thức hành Bồ tát đạo. Người tu Tiểu thừa phải qua ba a tăng kỳ kiếp dài nhưng dễ hơn chúng ta. Vì chúng ta là người đi tắt, không qua hai giai đoạn trước, tuy nhanh nhưng có phần khó khăn.

Chúng ta đi thẳng vào hạnh Bồ tát, nên cùng một lúc làm hai việc, vừa phá vô minh, vừa chứng Pháp thân. Ví như người vừa làm việc vừa đi học, phải vất vả hơn người chỉ chuyên đi học. Trong khi Thanh văn nội giới hoàn toàn thanh tịnh, phiền não đã dứt sạch, không còn sanh tử luân hồi, trí tuệ đã phát sanh. Hoàn cảnh và các loài không còn chi phối được các ngài, nên khi hành Bồ tát đạo, thân tâm các ngài hoàn toàn thanh tịnh.

Tuy nhiên, chúng ta hành đạo nương nhờ công đức kinh và sự hộ niệm của chư Phật, chư Bồ tát mới làm được những việc bất khả tư nghì. Nếu không nương vào công đức kinh và thần lực của chư Phật, chư Bồ tát, chúng ta cũng như người bị Tiểu thừa chỉ trích rằng chưa biết bơi mà muốn cứu người chết đuối. Mặc dù chưa biết bơi, nhưng người hành Bồ tát đạo, ví như người có thuyền của Phật vàBồ tát cho mượn, có thể đi sang bờ bên kia không nhọc sức. Hành giả thọ trì kinh Pháp Hoa cũng như kinh Di Đà, là những người nguyện nương theo thần lực của chư Phật. Vì phàm phu muốn đi tắt lộ trình Bồ tát để thành Phật, cần phải nhờ sự hộ niệm che chở của chư Phật và Bồ tát mười phương. Đó cũng chính là hạnh nguyện của các Ngài.

Đức Phật hộ niệm cho hành giả Pháp Hoa sau khi Ngài diệt độ, vì Ngài biết rõ trong đời mạt pháp, người hung dữ nhiều vô số. Họ không từ chối một thủ đoạn xấu ác nào để gây khó khăn chướng ngại cho hành giả Pháp Hoa trên bước đường tu không ít. Tuy nhiên, điều kiện chính yếu muốn được Phật hộ niệm, hành giả phải có căn lành; nghĩa là tâm niệm tốt và việc làm thánh thiện lợi ích của hành giả trên cuộc đời. Thiếu căn lành không khác chi thiếu ngọn đèn chánh pháp soi sáng, hành giả không thể nào đến với Phật được. Nhưng căn lành quá nhỏ, trong khi nghiệp ác quá lớn, Đức Phật cũng không thể cứu được. Như câu chuyện anh học trò trên đường đến trường thi, đã cứu một con nhện thoát chết. Khi anh đọa địa ngục vì tạo nhiều tội lỗi hơn là làm phước thiện, đến ngày rằm tháng 7, nương nhờ công đức lực của ngài Địa Tạng Bồ tát phát nguyện cứu độ bất cứ chúng sanh nào đã có một hành động thiện dù nhỏ bằng cây kim. Anh được con nhện mà trước kia anh từng cứu sống thòng sợi dây tơ xuống. Anh vội nắm sợi dây để trèo lên và quay lại thấy sau lưng anh bao nhiêu chúng sanh đau khổ khác cũng đang bám theo sợi dây. Anh co chân đạp họ rớt xuống để lên một mình. Thế là sợi dây nhện này bị cắt đứt và anh học trò lại té xuống theo tâm niệm và hành động ích kỷ của mình. Câu chuyện hàm chứa triết lý của Phật giáo Đại thừa, để chúng ta suy nghĩ cứu người chính là cứu mình. Nhưng khi lòng tham của chúng ta quá lớn, có muốn cứu cũng không được.

Hành giả nuôi lớn căn lành, tạo sự liên hệ giữa Phật và chúng ta bằng cách tịnh hóa tâm mình. Cố gắng giữ gìn tâm tương ưng với Phật thì cầu nguyện mới có kết quả. Hành giả tập trung tâm tư nguyện vọng để duy trì làn sóng liên lạc giữa hành giả và Phật. Đến khi ra khỏi sanh tử mới được an lành.

Nhờ nhân duyên căn lành làm nhịp cầu nối tiếp với Phật, giúp cho hành giả sống trong Tịnh độ Hóa thành. Như vậy, mới tiến tu được trong đời ác, mới sử dụng được pháp phương tiện của Phật, mới không lùi bước nản lòng trước những nguyện lớn phải dấn thân. Nếu đánh mất sự tương ưng với Phật, vì tâm niệm và việc làm của chúng ta hoàn toàntrái với Phật, thì chúng ta không thể nào tiếp nhận được sự gia bị và ta cũng xác xơ như bướm rụng cánh.

Đức Phật dạy ngay khi Ngài tại thế, còn có người oán ghét kinh Pháp Hoa, huống là sau khi Ngài diệt độ. Vì vậy nhân duyên căn lành là điều kiện cần thiết dùng để bổ túc cho năm pháp tu phương tiện của chúng ta ngày nay là thọ trì, đọc, tụng, biên chép, giảng nói. Tuy chưa phải là Phật, nhưng tác dụng của hành giả giống như Phật. Ví như Đức Phật là đài phát thanh, hành giả có radio nên bắt được làn sóng điện và âm thanh của Phật, làm cho chánh pháp còn mãi trên thế gian, lợi lạc cho chúng hữu tình.

Sự thọ ký hiểu theo chúng ta ngày nay là tiên đoán vận mạng con người, nhưng chúng ta đừng lầm với sự tiên đoán của thầy bói. Thọ ký của Phật giống như sự bảo nhiệm của giáo sư đối với nghiên cứu sinh. Ông thầy có thực tài nhìn thấy khả năng của học trò và tiên đoán họ sẽ bảo vệ được luận án hay không.

Đức Phật thọ ký cho Thanh văn thành Phật được, vì Ngài thấy tất cả việc đúng như thật. Đức Phật ở vị trí cuối đoạn đường đi của chúng ta, mới thọ ký bảo nhiệm được những gì xảy ra trên bước đường đi của chúng ta. Ngài quan sát căn tánh, hành nghiệp, xem thể lực, trí lực, đức hạnh của ta như thế nào mới xác định được tương lai. Ngài dùng Phật nhãn thấy rõ được việc làm của đệ tử trong vô số kiếp tới. Ngoại trừ Phật nhãn, những sự hiểu biết khác của Thanh văn cho đến Bồ tát đều không thể thọ ký. Vì đó không phải là nhãn quan chính xác rốt ráo, nên chưa thấy được chư pháp thật tướng và không thể giải đáp được bài toán đời quá dài của mọi loài từ vô thỉ đến vô chung.

Có năm cách nhìn về con người và vũ trụ, hay nói chung tất cả các pháp theo thứ bậc từ thấp lên cao.

1. Nhục nhãn: Dùng mắt thường của con người thấy không xa quá đường chân trời. Lại thêm cái thấy này còn lệ thuộc tâm tình của từng người, nên khi thương thấy trái ấu cũng tròn. Nếu thấy trên căn bản tham vọng còn sanh ra vô số sai khác nữa. Vì vậy dùng nhục nhãn để biết thực tế còn không đúng, huống gì thấy những việc cao xa.

2. Thiên nhãn thường được người Nhật gọi là đôi mắt khoa học vượt hơn sự hiểu biết hạn hẹp thông thường. Dưới mắt khoa học, sự vật thế nào phải thấy đúng như vậy, thấy được nguyên lý cấu tạo nên sự vật. Thí dụ quan sát con ngườithấy không phải là đàn ông hay đàn bà, nhưng cấu tạo bằng hai thứ vật lý và tâm lý. Từ đó chúng ta có khoa học tự nhiên thấy được sinh hoạt của tạo hóa và khoa học xã hội thấy sinh hoạt con người.

Tuy nhiên, cái thấy theo khoa học cần trang bị bằng một số điều kiện và phương tiện. Và những phương tiện ta có ngày nay cũng ở tầm mức hữu hạn, cũng chỉ là người mò mẫm trong đám người mù.

3. Huệ nhãn là cái thấy bằng trực giác, không chứng minh được. Ví như một người dùng trí hiểu biết về triết học phán đoán sự vật. Do suy tư mà hiểu, không mò mẫm trắc nghiệm để biết. Đắc được huệ nhãn, người ta quan sát những biến động của vật trong vô hình. Dưới mắt các ngài, chúng sanh chỉ là giả hợp, là bọt nước trên bể. Vì các ngài sống với pháp tánh, thấy được chu kỳ thật của chúng trước khi sanh và sau khi chết. Đây là giai đoạn không còn phân tích được, các vị này an trụ trong Thiền định, biết được mọi việc xảy ra, thấy được diễn biến của ba đời trước và ba đời sau. Vị A la hán tiêu biểu đạt được huệ nhãn cao nhất là A Na Luật. Ngài thấy tam thiên đại thiên thế giới như thấy trái xoài để trên lòng bàn tay.

Và cái thấy bằng nhục nhãn của A la hán bị Duy Ma chất vấn có phải là thấy bằng cụ thể hóa hay không. Nếu có hình thành ra vật chất mà thấy sẽ không khác gì Ngũ thông của ngoại đạo chỉ thấy được cái bóng của vật chất, chứ không phải vật chất, vì vật chất luôn biến đổi không dừng. Nếu thấy được bản thể của sự vật, không thể nào gọi là thấy. Vì ở lập trường bản thể không sanh diệt quán pháp không sanh diệt, thì vấn đề thấy đâu cần đặt ra.

4. Pháp nhãn, hay cái nhìn của Bồ tát. Có hai lối kiến giải, một cho rằng Bồ tát do kinh nghiệm hành đạo trong mười phương biết được. Lối kiến giải thứ hai lại ví Bồ tát như nghệ sĩ nhìn đời với cặp mắt nghệ thuật, nên thấy nguy hiểm khổ sở mà vẫn vui, thấy xấu thành tốt vì do tưởng tượng.

Các lối kiến giải trên không đúng. Vì nhục nhãn của loài người bị nghiệp lực chi phối không đồng nhau, lại thêm bị tam độc tham sân si và thân ngũ uẩn ràng buộc, thì làm sao phán đoán được pháp nhãn của Bồ tát. Nhục nhãn của chúng ta bị giới hạn bởi định luật thời gian và không gian thì thế giới của chư Bồ tát tất nhiên phải ở ngoài tầm mắt của chúng ta và hạng phàm phu vô trí lại cho đó là sự tưởng tượng.

Trong các nhãn quan kể trên, Pháp nhãn của Bồ tát chính xác hơn cả, nhưng cũng chưa đủ để thọ ký cho người thành Phật.

Hàng A ha hán thực chứng huệ nhãn, biết được quá khứ và vị lai rồi, Đức Phật mới dạy họ pháp kết hợp giữa Có và Không. Ở giai đoạn thiên nhãn, hành giả chỉ quan sát về phương diện Có. Đến giai đoạn huệ nhãn, hành giả thấy trên mặt Không. Và khi chứng Pháp nhãn mới thấy sự tương quan tương duyên giữa Có và Không, vì chấp Có, chấp Không đều sai lầm.

Chứng đắc Pháp nhãn, hành giả trụ ở Trung đạo đệ nhất nghĩa, biết được sự tổng hợp của các pháp. Đó là lộ trình của Bồ Tát tu để chứng thật tướng. Bấy giờ, hành giả là pháp và pháp là hành giả. Bồ tát Phổ Hiền đưa tâm vào Pháp giới thì mọi vật hữu hình vô hình đều biến thành ngài. Vì vậy, Bồ tát cảm được sự khổ vui của chúng sanh, vì các ngài đã thâm nhập vào tâm chúng sanh, nên biết nó một cách chính xác. Chư Bồ tát hoàn toàn tự tại, sắc thân không còn chi phối các ngài được, huống chi là hoàn cảnh. Tuy không còn sanh tử luân hồi, nhưng các ngài hiện hữu bên cạnh chúng ta chỉ vì nguyện lực hành Bồ tát đạo.

Trên lộ trình tu hành, Bồ tát đem pháp kết hợp với tâm để quan sát và phân tích đến đâu sẽ mở rộng Pháp nhãn đến đó. Cuối cùng, đạt đến hiểu biết tất cả pháp một cách chính xác, thấy suốt cả ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai.

Như vậy, lộ trình tu hành của chúng ta có năm chặng đường. Đến giai đoạn cuối cùng, đắc được Phật nhãn, thấy tất cả hiện tượng trong Pháp giới một cách chính xác và chuyển được vật một cách tự tại theo ý muốn.

Đức Phật quan sát thấy suốt mọi diễn biến của cuộc đời từ vô thỉ đến tận vị lai tế của bốn vị đại đệ tử Ca Diếp, Mục Kiền Liên, Ca Chiên Diên, Tu Bồ Đề. Ngài mới thọ ký cho các vị này được.

Sự thọ ký còn bao hàm sự bảo chứng của bậc Đạo sư toàn năng, toàn trí, có trách nhiệm đối với những đệ tử kề cận tu học với Ngài. Đức Phật thọ ký cho các vị này với điều kiện họ phải đi theo lộ trình thân cận, cúng dường bao nhiêu ức Đức Phật.

Điểm này có nhiều người thường hiểu lầm thân cận cúng dường các Đức Phật nghĩa là ở gần tượng Phật thờ trong chùa và mang hoa trái cúng dường cho Phật tượng. Thân cận các Đức Phật phải được hiểu là hạnh thân cận hay việc làm của mình gần với Đức Phật. Suy nghĩ và việc làm của hành giả lâungày gần với Phật, giống Phật mới trở thành Phật sự.

Nhận định rõ như vậy, chúng ta rọi lại kinh điển Đại thừa, xem Đức Phật làm gì mà thành Phật. Từ đó từng bước hành giả làm theo và đến khi thành tựu trọn vẹn, mới thành Phật. Trong kinh Đức Phật thường nhắc rằng đầy đủ tâm đại bi mới thành Phật.

Ngoài điều kiện gần Phật trong suy tư và hành động, hành giả cần cúng dường Phật. Cúng dường Phật không đơn thuần là dùng bông trái. Đức Phật dạy thành tựu chúng sanh là tối thượng cúng dường. Nghĩa là phát triển cuộc sống mình và người cùng thăng hoa, xã hội cùng an vui tiến bộ, mới thể hiện thực sự ý nghĩa cúng dường.

Như vậy thấu hiểu sự thọ ký của Đức Phật, trở về thực tế của chúng ta, trước tiên phải thể hiện lời Phật dạy trong cuộc sống. Từ năm giới cấm đến tu thập thiện nghiệp, điều chỉnh ba nghiệp thân khẩu ý và dũng mãnh tiến tu ba mươi bảy Trợ đạo phẩm mà Đức Phật vạch ra, chắc chắn mười phương chư Phật sẽ thừa nhận chúng ta là Phật tử. Và thế giới mà chúng ta gieo trồng hạt nhân ba mươi bảy Trợ đạo phẩm sẽ kết thành Tịnh độ trang nghiêm bằng hoa quả của Hiền Thánh.

Thời Đức Phật tại thế thuộc thời kỳ đồ đồng. Phương tiện đi lại chỉ có cỡi trâu hay đi bộ, đường ngoằn ngoèo, hầm hố gai chông, núi non hiểm trở. Đức Phật mới giới thiệu thế giới lý tưởng bằng như bàn tay, có đường thẳng chạy tám phương, có trồng cây, treo đèn sáng.

Ngày nay nếu đến một thành phố văn minh, chúng ta nhìn về bề mặt của xã hội, thấy gần giống những gì diễn tả trong Phật quốc. Nhưng về phương diện tâm linh thì thua xa vì còn nhiều hố thẳm xấu xa tội lỗi, cần triệt để xây dựng, điều chỉnh nhân tâm.

Trong thế giới của ngài Ca Diếp được thọ ký, tuy có ma và dân ma, nhưng đều tôn trọng hộ trì chánh pháp. Hình ảnh này thể hiện rõ nét sự khác biệt giữa thế giới Phật và thế giới chúng ta.

Thế giới loài người chỉ mới tốt về vật chất, nhưng mặt tinh thần quan trọng hơn lại chưa được trong sáng. Chúng ta có thể khẳng định văn minh thực sự chỉ tìm thấy được trong thế giới Phật với sự hiện hữu của toàn chúng Bồ tát. Thật vậy, Bồ tát là những người có đầy đủ ba tâm là Trực tâm, Thâm tâm và Bồ đề tâm; nghĩa là người có tâm hồn ngay thẳng, không giả dối, thích xây dựng cho người khác hưởng. Họ thông minh hiểu biết, thấy được nguyên nhân tạo nên vũ trụ, tạo nên hạnh phúc hay khổ đau của con người.

Trong khi thế giới của chúng ta được mệnh danh là đang ở tột đỉnh của sự văn minh, nhưng có bao nhiêu người biết sống thành thật. Những tội trạng lừa đảo gian dối, giả mạo đầy dẫy hàng ngày ở khắp nơi. Có bao nhiêu tâm hồn phóng khoáng, vị tha hay chỉ tràn ngập những người thích tranh danh đoạt lợi, ngồi không thụ hưởng. Và số người ngu dốt, kém hiểu biết gây ra tệ nạn tràn lan cũng không ít.

Ngoài ra, nếu cuộc sống con người chỉ nhắm đến sự thỏa mãn nhu cầu vật chất về ăn mặc, đi lại, nhà ở, giải trí, thì con người ngày nay quả tình đang sống trong cảnh Cực Lạc với hàng loạt kiểu cách tiện nghi mới lạ. Thế nhưng chưa lúc nào như lúc này, nhân loại đang lo sợ một cuộc chiến tranh hủy diệt loài người bằng vũ khí hạt nhân do văn minh khoa học chế tạo. Một phút giây nào đó, ác tâm hiếu sát mù quáng nổi lên, cả trái đất này biến thành tro bụi. Vì thế, tuy văn minh tiến bộ, con người vẫn đầy ắp khổ đau, sống trong sự băn khoăn, lo sợ, nghi ngờ, thì Tịnh độ hay thế giới Phật, chắc chắn chẳng thể hiện ra.

Khi thọ ký cho ngài Ca Diếp, Phật dạy ông phải tự phát triển khối óc và bàn tay, không phải chờ người khác làm cho hưởng. Hoàn chỉnh phần tri thức và đạo đức tự thân xong, muốn kiến tạo Tịnh độ, phải chuyển toàn bộ tâm của mọi người, dìu dắt nâng đỡ mọi người cùng đi lên. Mọi người đều phát huy tài năng và đức hạnh, Tịnh độ sẽ ở ngay trước mặt.

Trên thực tế, chúng ta thấy rõ từ trước đến nay, đời sống phát triển được là nhờ những người giàu lòng hy sinh ở mọi phương diện. Nếu chỉ có những người yếm thế, chúng ta khó phát huy xây dựng. Hơn nữa, con người tối linh trong muôn loài, không phải muôn đời lập đi lập lại sinh hoạt chừng ấy như con ong cái kiến. Vì chúng ta có đủ điều kiện phát triển trí tuệ và ứng dụng linh hoạt sự hiểu biết vào cuộc sống, để chuyển đổi từ phàm phu thành bậc Toàn giác, kiến tạo Tịnh độ.

Đức Phật dạy chỉ có con đường thể hiện Bồ tát hạnh mới dẫn đến quả vị Vô thượng giác và dựng xây thế giới Phật. Đi ngoài lộ trình này, chúng ta chỉ là kẻ mù lang thang tìm hoa đốm trong hư không.