cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển II - Lược Giải Kinh Pháp HoaHT THÍCH TRÍ QUẢNG


Sách / Trí Quảng Toàn Tập - Quyển II - Lược Giải Kinh Pháp Hoa / Phẩm 2: Phương tiện

Lần nghe: 46.049

 I. LƯỢC VĂN KINH

Đức Phật xuất Định và nói với Xá Lợi Phất: "Trí tuệ của các Đức Phật rất sâu vô lượng, tất cả Thanh văn, Bích chi Phật đều không thể biết. Vì trí tuệ ấy là kết quả của sự gần gũi trăm ngàn muôn ức chư Phật, của sự tu hành vô lượng pháp Phật, của sự thấu đạt pháp mầu mà các ông từ trước chưa bao giờ nghe. Từ khi thành Phật đến nay, Ta đã nói pháp bằng nhiều phương tiện để làm cho chúng sanh xa lìa lòng chấp. Ta có đầy đủ phương tiện và tri kiến Ba la mật, mới thành tựu được như vậy. Chỉ có Phật mới thấu rõ tướng chân thật của các pháp”.

Hàng Thanh văn, tứ chúng đều ngạc nhiên không biết tại sao hôm nay Đức Thế Tôn lập đi lập lại pháp mà Ngài chứng được và ca ngợi phương tiện như thế. Ngay như vấn đề chứng Niết bàn họ đã hoàn tất, tại sao Đức Phật còn đề cập đến.

Xá Lợi Phất biết tứ chúng nghi ngờ và chính ông cũng chưa rõ lời Phật dạy, nên xin Phật giải thích. Đức Phật từ chối, vì nói rõ thì trời người sẽ kinh sợ. Xá Lợi Phất thỉnh cầu thêm hai lần nữa. Đến lần thứ ba, Phật bằng lòng giải thích. Lúc ấy, năm ngàn Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam nữ cư sĩ trong pháp hội đứng lên lễ Phật và đi ra, vì họ tự cho đã đắc đạo, không cần nghe.

Thế Tôn yên lặng, không ngăn cản và nói với Xá Lợi Phất: "Những người tăng thượng mạn bỏ đi càng tốt, nhờ đó chúng hội còn thuần những người chân thật. Chư Phật đúng thời mới nói pháp, như hoa Linh Thoại đến thời tiết mới nở một lần. Pháp ấy không thể dùng trí suy lường phân biệt mà hiểu được. Để mọi người thâm nhập pháp, Ta phải dùng vô số phương tiện như nhân duyên, ngôn ngữ, thí dụ.

"Mục tiêu các Đức Phật ra đời chỉ nhằm khai mở tri kiến Phật, chỉ cho chúng sanh thấy tri kiến Phật, làm cho chúng sanh nhận rõ tri kiến Phật và giúp chúng sanh đi vào con đường tri kiến ấy, nghĩa là thành Phật. Chỉ có một Phật thừa(Nhất thừa) là con đường dẫn chúng sanh đến quả vị Phật, không có hai hay ba thừa. Ba đời chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai cũng đều dạy như vậy và chúng sanh nghe theo tu hành đều thành Phật.

"Đối với chúng sanh ở đời ác trược, Ta phải dùng phương tiện nói Tam thừa. Nếu Thanh văn, Duyên giác tưởng rằng đã chứng Niết bàn, không tin pháp Nhất thừa là hàng tăng thượng mạn, không phải đệ tử Phật, không phải thực chứng La hán”.

Phật nhắc lại những tư duy, đắn đo của Ngài lúc mới đắc đạo dưới cội Bồ đề. Trong suốt hai mươi mốt ngày, Ngài luôn suy nghĩ làm thế nào dạy chúng sanh tham ái, mê muội, hiểu được trí tuệ bậc nhất của Ngài. Nếu chỉ dạy Phật thừa cho chúng sanh, họ sẽ không tin và đọa vào ba đường ác, chìm mãi trong biển khổ. Ngài nhớ lại pháp phương tiện giáo hóa của chư Phật quá khứ, liền phân chia giáo pháp thành Tam thừa để người trí kém cũng tin theo được. Sự thật Phật ra đời để chỉ bày chân lý, không phải để sử dụng pháp phương tiện mãi.

Nay Phật nhận thấy đã đến lúc cần giảng dạy Phật thừa. Tuy nhiên, những việc làm bình thường như cúng dường Xá lợi, xây tháp, tạc tượng, niệm Phật, lễ lạy, cho đến chỉ đưa một tay hay cúi đầu trước tượng Phật, v.v… được Phật xác định đó cũng là những bước tiến dẫn đến giải thoát giác ngộ.

 

II. GIẢI THÍCH

Kinh Pháp Hoa thường được các vị cao Tăng chia làm hai phần chính. Ngài Pháp Vân chia 27 phẩm thành Nhơn môn gồm 13 phẩm đầu và Quả môn gồm 14 phẩm sau (Thời ngài Pháp Vân, kinh Pháp Hoa chỉ có 27 phẩm, vì chưa có phẩm Đề Bà Đạt Đa).

Ngài Gia Tường (Tam Luận tông) cũng chia kinh Pháp Hoa ra làm hai phần, 14 phẩm đầu thuộc Thừa quyền thật và 14 phẩm sau thuộc Thân quyền thật để giải thích.

Trí Giả đại sư cũng chia kinh thành hai, từ phẩm 1 đến 14 thuộc Tích môn, từ phẩm 15 đến 28 thuộc Bổn môn. Tích môn chỉ cho Đức Phật thị hiện trên cuộc đời và giáo pháp cùng việc làm của Ngài ở cõi Ta bà chỉ nhằm mục đích duy nhất là đưa người về thế giới an lành vĩnh cửu. Phẩm Phương Tiện là trung tâm điểm của Nhơn môn hay Tích môn và ý chính của Bổn môn ở phẩm 16 Như Lai Thọ Lượng.

Tựu trung, các Tổ sư đều phân kinh Pháp Hoa làm hai phần, phần một thuộc phương tiện và phần hai là cứu cánh. Bằng kinh nghiệm tu chứng riêng, các ngài thẩm định như vậy. Riêng tôi, đây vẫn còn là đề tài đang nghiên cứu suy nghĩ, tu tập. Chúng ta không thể nhắm mắt đi theo lối mòn cũ, lập y lời người trước. Theo tôi, nên hiểu và nắm bắt được tư tưởng của các vị tiền bối, có nghĩa là chúng ta phải đạt đến tư cách như các ngài, không phải chỉ lập lại lời của các ngài.

Trong phẩm Tựa, Đức Phật nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ định, hiện vô số cảnh giới mầu nhiệm của Bồ tát thân chứng được, khiến hàng Thanh văn nghĩ rằng không biết lý do gì mà Phật hiển bày thần thông. Khi họ khởi niệm đó, Phật xuất Thiền, trở lại thế giới loài người bằng An tường Tam muội.

Vào cửa Vô Lượng Nghĩa, thì tất cả sai biệt thần thông của Phật hiện rõ và ra bằng An tường Tam muội, chúng hội đều thấy an lành. An tường Tam muội của Phật Thích Ca diễn tả trạng thái tâm của Ngài không biến động, không bị trần thế làm ô nhiễm, dù Ngài sống trong cảnh vắng hay đông người. Tuy tâm Phật vắng lặng, nhưng vẫn tỏa sức sống, có tác dụng làm người an vui. Tâm này khác với trạng thái lầm lì của người tập trung để nghiên cứu vấn đề gì trở thành ngây ngô, không biết những diễn tiến xung quanh.

An tường Tam muội của Phật làm vui cho cuộc đời một cách tự nhiên. Tuy ở chánh định, sự liên hệ giữa Ngài và các A la hán thanh tịnh qua An tường Tam muội, khiến họ cảm thấy niềm vui kỳ diệu không diễn tả được. Trong khi năm ngàn tăng thượng mạn với tâm tham trước, không thể bước vào thế giới hỷ lạc này, phải bỏ đạo tràng ra đi.

Phật sử dụng An tường Tam muội, nghĩa là từ bản thể bước qua thế giới hiện tượng, hay từ đạo tràng bao la kỳ diệu của Báo thân viên mãn Lô Xá Na, Phật nói với tám mươi ngàn ức na do tha đại Bồ tát từ mười phương đến, Đức Phật xả Định, trở về với ứng thân của con người, nói pháp cho đạo tràng thứ hai với chúng hội là mười hai ngàn Thanh văn. Ở trạng thái không dao động của An tường Tam muội, Phật nói với Xá Lợi Phất về trí tuệ của Như Lai rất sâu vô lượng. Chỉ có chư Phật mới thấu hiểu cùng tột các pháp, tạo thành lực dụng bất khả tư nghì mà hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát không hiểu nổi.

Chúng hội rất ngạc nhiên, vì sao Phật lại ca ngợi trí tuệ Như Lai. Một ngàn hai trăm vị đã được Phật ấn chứng là A la hán tự nghĩ mình và Phật địa vị ngang nhau, đều có quả vị Ưng cúng, bằng với Phật. Tại sao hôm nay, Phật lại nói tất cả A la hán, Bích chi Phật không hiểu được, không thể vào được trí tuệ Như Lai. Phật nói một nghĩa giải thoát, họ đã chứng được Niết bàn. Như vậy sự hiểu biết của Như Lai là gì và quả vị Niết bàn mà họ chứng đắc ra sao.

Phật trả lời rằng pháp của A la hán chứng đắc thì chỉ diệt hết kiết sử phiền não, không còn khổ đau. Nếu thực chứng Diệt đế, thì phải làm cho tất cả người chung quanh không còn phiền não, ví như ma ni bảo châu bỏ vào nước, nước liền trong. Còn thủy tinh dù có ngàn viên vào nước, nước vẫn đục.

Đức Phật ra đời, mọi người đều lợi lạc. Ngài là A la hán và các Tỳ kheo khác cũng là A la hán. Về đức hạnh ngang nhau, về phiền não cũng hết, nhưng sự hiểu biết Pháp giới, chỉ có Phật biết được tường tận. Vì Ngài đã từng thân cận cúng dường các Đức Phật và thành tựu được muôn vạn hạnh lành của Bồ tát. Chẳng những biết rõ vật, Phật còn điều động vật tự tại theo ý muốn, Ngài là một A la hán toàn vẹn.

Về vấn đề quả vị Niết bàn mà đệ tử Phật chứng đắc, theo Trí Giả đại Sư, tùy theo trình độ tu chứng mà có Niết bàn sai khác. Ngài chia pháp Tứ đế làm bốn cấp bậc. Pháp Tứ đế ở tầng thứ nhất, phàm phu hiểu được là pháp Tứ đế tư nghì sanh diệt. Từ pháp ở cấp bậc một, người có tâm hướng quả vị Niết bàn như ngài Kiều Trần Như chỉ chứng được pháp Tứ đế tư nghì bất sanh diệt.

Thật chứng được pháp thứ hai, sẽ sanh được pháp thứ ba mà Xá Lợi Phất đang truy cầu, không còn dùng tâm trần quan sát vật. Trí Bồ tát quan sát cảnh Tứ đế mầu nhiệm này không biết được việc mình làm, chỉ hoàn toàn nhờ Phật lực gia bị để thành tựu công đức nên gọi là bất tư nghì sanh diệt Tứ đế. Trí Giả ví nhãn quan của Bồ tát như cái kiếng đa thể thấy được muôn màu sắc và đổi dạng liên tục. Tuy nhiên, dù biến đổi vật như thế nào cũng nằm trong sự hiểu biết và điều động của Như Lai. Đó mới thực là pháp Tứ đế hoàn toàn bất tư nghì bất sanh diệt, là Niết bàn thực sự của Như Lai.

Chứng đắc quả vị Niết bàn của Như Lai phải chuyển được vật, không phải là sự diệt độ riêng rẽ như A la hán. Phật chuyển được vật, vì Ngài hiểu tận nguồn ngọn các pháp và không còn sót một vật gì trong vũ trụ mà Ngài không biết gọi là tri kiến Ba la mật.

Sự hiểu biết thật tướng các pháp được nêu trong Thập Như thị: Như thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bản mạt cứu cánh. Nghĩa là một pháp được quan sát ở mười trạng thái biến chất khác nhau. Pháp là vật hữu hình, vô hình, hữu vi hay vô vi, là tất cả cái gì giữ được tư chất của nó, ta nhìn biết được và đặt tên được.

Muốn thấy thật tướng các pháp, Phật dạy đầu tiên xem tướng chân thật của nó là gì. Tướng này Ngài bảo là giả tướng, luôn luôn thay đổi không ngừng từ nhỏ đến lớn, từ lớn trở về nhỏ. Điều động được sự chuyển đổi này, Tổ mới thốt lên câu:

Càn khôn tận thị mao đầu thượng,

Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung.

Nghĩa là lớn như mặt trời, mặt trăng cũng chui gọn vào hạt cải, cho đến vũ trụ càn khôn có đủ trong đầu một sợi lông.

Kế đến quan sát tánh là tính chất của pháp. Kiểm soát được tánh vui mừng, đau khổ, tham vọng, v.v… Thấy được tánh của pháp lúc nó di động và thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác là thể. Ở khoảng giữa có một lực. Biết được tác dụng của lực và sử dụng ngay lực này mà điều khiển, tạo thành sức mạnh bất khả tư nghì. Chính Phật sử dụng thần lực để chuyển chúng hội thành Bồ tát thân mà quan sát thế giới Phật. Và từ Bồ tát thân, Ngài chuyển trở lại thân phàm phu cho chúng hội, trả về cảnh vật hiện thực.

Trong sự biến đổi tương quan các pháp của Thập Như thị, Phật thấy suốt từ quá khứ đến vị lai của mọi người và tất cả pháp, không phải một pháp, Ngài mới thọ ký được. Không còn gì Ngài không hiểu, dù là việc nhỏ nhất, lâu xa nhất gọi là bản mạt cứu cánh. Thể hiện pháp này, Phật phóng quang cho chúng hội thấy cuộc đời tu hành của Ngài từ vô thỉ kiếp đến khi thành Phật. Ngài đã bố thí tài sản, thân mạng hoặc Thiền định, giáo hóa pháp khắp mười phương.

Trong Thập Như thị, tùy theo trình độ tu chứng, mỗi người quán sát pháp dưới khía cạnh khác nhau. Ngài Trí Giả đứng ở vị trí "Tướng như thật” chứng nghiệm, thấy được trong một niệm tâm có ba ngàn pháp biến đổi. Ngài lý giải mười trạng thái của một pháp trong Thập giới (tứ Thánh, lục phàm) chịu sự chi phối của luật hỗ tương nên biến thành 10 x 10 = 100 pháp. 100 pháp này tác dụng với Thập Như thị: 100 x 10 = 1.000 Như. 1.000 Như phối hợp với tam thế gian (là ngũ ấm, chúng sanh và quốc độ) thành 3000 thế giới (1000 x 3 = 3000 thế giới). Con số ba ngàn có trong một niệm là con số biến, tiêu biểu cho sự biến hóa không lường của các pháp trong vũ trụ bao la.

Ngoài tri kiến Ba la mật, không có việc gì trên đời mà Phật không làm được, gọi là phương tiện Ba la mật. Tri kiến là minh và phương tiện là hành, đầy đủ tri kiến tột đỉnh và phương tiện vô cùng, Phật có danh hiệu là Minh Hạnh Túc. Với sự hiểu biết cùng tột trong vũ trụ và làm được tất cả, Phật hướng dẫn chúng sanh, nhất định họ đạt quả vị Chánh đẳng Chánh giác.

Phật có tri kiến và phương tiện Ba la mật, vì Ngài có cấu trúc cơ thể đặc biệt, đã tạo công đức tu hành đạo Bồ tát ở vô lượng Phật quá khứ và đã gieo trồng tất cả tri kiến Phật. Chính vì vậy, Ngài trở thành một người vạn năng, tự tại vô ngại. Dù Ngài hiện hữu trên cuộc đời hay không, thì Phật sự vẫn trôi chảy miên viễn, không dứt. Hàng Thanh văn, Bích chi Phật có nhiều vô số, hợp lại cũng không thể hiểu được điều này.

Xá Lợi Phất từ lâu thao thức về sự chứng đắc của mình. Ông tự nghĩ cũng đồng ở trong bể pháp tánh Như Lai, tại sao giữa ông và Phật vẫn có sự cách biệt to lớn. Nay nghe Phật ca ngợi pháp nhiệm mầu khó hiểu của chư Phật, ông vội ân cần ba lần thỉnh Phật giảng.

Lần thứ nhất, Xá Lợi Phất thỉnh Phật nói pháp cho toàn chúng hội. Phật từ chối, vì pháp Vô thượng không thể đem trao cho những người chưa phát tâm Bồ đề. Xá Lợi Phất thỉnh lần thứ hai, xin giảng cho hàng Thanh văn trở lên nghe, vì họ có trí sáng suốt. Phật cũng từ chối. Ngài bảo trí tuệ của những vị này không thể hiểu được pháp thậm thâm vi diệu, vì càng suy lường càng trở nên bế tắc và đọa địa ngục.

Đến lần thứ ba, Xá Lợi Phất thỉnh Phật nói pháp cho Bồ tát. Phật nhận lời vì họ đời đời đã từng theo Phật nghe pháp và đặt trọn niềm tin tuyệt đối nơi Đức Thế Tôn. Phật cho biết niềm tin là cửa ngõ duy nhất dẫn vào pháp tạng bí yếu của Như Lai. Khi Phật bằng lòng giảng dạy, năm ngàn người tăng thượng mạn bỏ hội trường, lễ Phật và đi ra. Phật không ngăn cản, còn cho là tốt, vì họ chưa có khả năng nghe kinh, nên để họ đi. Khi bỏ đi, họ sẽ suy nghĩ lại, thấy những người ở lại nhận được pháp mầu. Họ sẽ hối hận, cảm thấy thiệt thòi và khi đó sẽ phát tâm lại.

Người hoằng truyền kinh Pháp Hoa đời sau phải nương theo ý này mà hành đạo. Khi cơ duyên chưa đến, ta không nên ép buộc kêu gọi. Vì làm như vậy, người nghe sẽ sanh lòng tăng thượng mạn, đến độ thành nhất xiển đề và đọa địa ngục.

Trước khi giảng về pháp phương tiện, Phật xác định rằng pháp chân thật mà Ngài chứng được chỉ có chư Phật mười phương mới hiểu. Bồ tát không thể hiểu nổi, huống chi Thanh văn. Đối với chúng ta, tất nhiên còn cách xa vạn dặm. Thật vậy, Phật nhận thấy thể lực chúng ta không tốt, khả năng hiểu biết chúng ta kém, hai vốn quý giá để đắc đạo chúng ta không đủ. Ngài động lòng từ bi, triển khai phương tiện cho chúng ta tu.

Quan sát cuộc đời tu hành của Phật, thấy rõ Ngài có sức khỏe phi thường. Khi chưa xuất gia, lịch sử ghi không có lực sĩ nào mạnh hơn Ngài. Nhờ sức khỏe kỳ diệu, Ngài trắc nghiệm các pháp một cách tường tận. Điển hình như Ngài thí nghiệm pháp tu khổ hạnh trong sáu năm, ngày ăn một hột mè vẫn sống được và hạ thủ công phu trong bốn mươi chín ngày, không ăn vẫn không ngã gục, còn đạt đến đỉnh cao của sự minh mẫn gọi là giác ngộ.

Các vị Thiền sư cũng có thể lực vượt bình thường. Ngài Thiên Thai tu trên núi mười hai năm, ăn toàn rau. Điều kiện vệ sinh chắc chắn không tốt như ngày nay, nhưng sức đề kháng của cơ thể ngài mãnh liệt, vượt qua ám khí, nóng lạnh và bệnh tật của núi rừng, dễ dàng đắc đạo. Chúng ta ngày nay, điều kiện ăn ở, thuốc men, tiện nghi sống quá tốt, nhưng nay đau mai yếu. Thời khóa công phu bình thường không trọn, nói gì đến việc trắc nghiệm các pháp cao hơn.

Ngoài ra, phần trí lực hay khả năng tri giác của người tu mới thực là quan trọng. Đức Phật có sức thông minh tuyệt vời. Chưa xuất gia, không một vị Thầy nào ở thế gian đủ sức dạy Ngài. Đắc đạo, Ngài được tôn là bậc Chánh biến tri, hiểu biết các pháp diễn tiến tận cội nguồn. Trình độ tri thức của các Tổ sư cũng vậy, luôn luôn vượt hơn thế gian và chỉ đạo cho cuộc đời.

Ngày nay, trình độ dân trí bên ngoài tương đối cao. Trong khi hiểu biết của chúng ta không bằng thế gian huống là vượt thế gian để làm Thầy thiên hạ. Với thể lực yếu, trí lực kém và ác nghiệp quá sâu, biết bao khó khăn đang chờ đón trước mặt, chúng ta không còn cách nào hơn là nương theo pháp phương tiện tu hành.

Phương tiện dùng cho người mới phát tâm vào đạo để đạt đến quả Vô thượng giác. Nhưng đắc đạo rồi, mở cửa phương tiện để giáo hóa chúng sanh như Phật Thích Ca. Chúng ta cần phân định rõ như vậy. Chỉ mở phương tiện được, với điều kiện chúng ta đã thành Vô thượng Chánh đẳng giác.

Phật đưa ra tám mươi bốn ngàn phương tiện, hay tám mươi bốn ngàn pháp môn tu. Chúng ta tu pháp nào cũng được, nhưng đừng lạc ra ngoài những pháp này. Tạo những phương tiện khác là tự đẩy mình ra ngoài Phật pháp. Theo tôi, dùng phương tiện đúng, từng bước sẽ phá bỏ nhiễm ô trần cấu và trí tuệ phát sanh, dẫn đến quả vị giác ngộ. Sử dụng phương tiện sai để trầm luân sa đọa là phạm tội phá pháp.

Không nên lầm pháp phương tiện với cứu cánh; nhưng không hiểu rõ lợi ích sâu xa mà bác bỏ pháp phương tiện, để tìm giải thoát, cũng sai. Hành giả cân nhắc, suy nghĩ sử dụng phương tiện thế nào để phá trừ phiền não cho mình và giáo hóa chúng sanh thành tựu, mới là điều quan trọng.

Hành giả học Phật pháp, nghĩa là đi qua cửa phương tiện để ra khỏi sanh tử. Trong kinh Pháp Hoa diễn tả muốn ra khỏi Nhà lửa tam giới, chỉ có một cửa duy nhất nhỏ hẹp. Đó là cửa phương tiện của Phật. Về sau Thiền tông mở thêm cửa Không. Tuy nhiên, chỉ có hàng thượng căn thượng trí như Ca Diếp, Đạt Ma, Huệ Năng mới bỏ Giáo môn, không vào cửa phương tiện, bước thẳng qua Không môn. Không Môn hay Thiền môn là cánh cửa mở ngược vô tâm, đòi hỏi hành giả phải thấy được tự tánh hay bản thể sự vật. Nghĩa là thành Phật, phải nắm bắt cái không nắm bắt được, vận dụng cái không có làm thành có như Tổ sư dạy:

Đại đạo quảng khai, thố giác trượng, phiêu đàm để nguyệt,

Thiền môn giáo dưỡng quy mao thằng phược lão đầu phong.

Nghĩa là lấy lông con rùa làm dây để cột gió trên đầu ngọn cây, không cho gió bay. Lấy sừng con thỏ làm cây sào thọc trăng dưới ao. Lông rùa, sừng thỏ, cột gió, mò trăng, đối với hàng phàm phu chúng ta hoàn toàn tuyệt phần, không bao giờ với tới được, đến độ có thể nghĩ lầm rằng đó là không tưởng. Vì thế, cửa Không tuy không có cửa, mà vẫn lạnh lùng then cài khép kín, ngàn đời không bao giờ hé mở cho những người chưa ngộ tánh. Chính vì sự khó khăn trong việc thâm nhập thế giới bản thể vắng lặng, không nói được, Phật mới mở các pháp phương tiện tương ứng. Và người trên trái đất chỉ làm một việc duy nhất là bàn đi bàn lại phương tiện. Nói cách khác, đưa Phật pháp vào tâm, đến ngày nào tâm bừng sáng, cũng ngộ tánh thành Phật. Riêng tôi, tự biết mình thuộc hạng trung hạ, đem hết cuộc đời trầm mình vào tám mươi bốn ngàn pháp tu. Suy tầm, nghiên cứu, tìm áo nghĩa trong giáo điển, ứng dụng vào cuộc sống, đạt được thành quả nào đem giáo dưỡng cho lớp thừa kế, để báo Phật ân đức. Thiết nghĩ khi gắn liền cuộc đời mình với giáo lý siêu tuyệt, tìm được lẽ sống giải thoát, thì không còn gì trên cuộc đời có khả năng hấp dẫn lôi kéo chúng ta được.

Tăng ni phải phát chí nương theo phương tiện của bậc đàn anh. Cố gắng tìm cái gì vượt lên trên, đừng an phận với bát cơm manh áo. Đừng sống trong bể Phật pháp mà không được chút hương vị giải thoát nào. Ở trong kho báu của Như Lai mà như kẻ không có tay chẳng lấy được gì, thật là phí cả cuộc đời vô ích.

Phương tiện thì tùy thời, tùy chỗ, tùy người mà thay đổi, có vô số pháp phương tiện thích hợp khác nhau. Suốt quá trình thuyết pháp của Phật hơn ba trăm hội, từ Lộc Uyển đến Ta La song thọ, tạo cho chúng ta phương tiện, được ghi lại thành văn tự kinh điển. Tuy nhiên, trong kinh Văn Thù, Phật đã khẳng định suốt bốn mươi chín năm, Như Lai chưa từng nói một lời. Một lời là pháp chân thật thường nhiên, không thể nói được. Và Như Lai ở trạng thái Vô sanh, không từ đâu đến và không đi về đâu, làm thế nào có thể nói với người trên cuộc đời.

Kinh Văn Thù ở lập trường bản thể xác định Như Lai chưa nói một lời. Bốn mươi chín năm thuyết pháp là Thích Ca mở phương tiện cho người ở trong sanh tử, nên Thích Ca viên tịch, Như Lai không tịch. Đức Phật chân thật Tỳ Lô Giá Na không chết. Đức Phật Thích Ca Niết bàn để Đức Phật thật phổ biến khắp thế giới, trở thành con người của nhân loại và luôn hiện hữu trong pháp tánh của người tu hành đắc đạo.

Hành giả chứng được một pháp nào, sẽ thấy Phật ở khía cạnh đó. Hai mặt cứu cánh và phương tiện vẫn là một, trong con người Phật. Cứu cánh là Phật thật hay chơn như tâm không sanh, không mất trên cuộc đời. Và phương tiện hiện ra con người sanh diệt thuyết pháp. Đó là thân Phật với ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp và tất cả giáo pháp của Ngài, đều là phương tiện của Đức Tỳ Lô Giá Na.

Ngài Thiên Thai chia kinh điển Phật thành ngũ thời giáo, theo đó Phật thuyết kinh Hoa Nghiêm trong hai mươi mốt ngày, kinh A Hàm mười hai năm, kinh Phương Đẳng tám năm, kinh Bát Nhã hai mươi hai năm, kinh Pháp Hoa tám năm. Ở lập trường Pháp Hoa xét, tuy Pháp Hoa thuộc thời sau cùng, nhưng kinh này thông được bốn thời kỳ trước, gọi là Viên giáo.

Ngài Thiên Thai cũng chia kinh Pháp Hoa thành năm loại (Ngũ chủng Pháp Hoa), trong đó văn tự Pháp Hoa gồm tất cả những gì Đức Phật đã thuyết giảng trên cuộc đời và đệ tử Ngài ghi lại, gồm đủ tam tạng giáo điển. Kinh Hoa Nghiêm, Bát Nhã, A Hàm đều là Pháp Hoa, cũng là Phật thừa. Vì đối với người sử dụng ngũ ấm thân, Phật phải triển khai phương tiện, dùng ngữ ngôn văn tự.

Hiểu như vậy, kinh Pháp Hoa không chỉ giới hạn trong 28 phẩm. Nó gồm toàn bộ giáo điển Phật đã được kiết tập, gọi chung là Pháp Hoa. Nhưng tại sao chỉ 28 phẩm này mang tên Pháp Hoa, còn các kinh khác không gọi là Pháp Hoa. Thí dụ kinh Hoa Nghiêm không tên Pháp Hoa vì ở dạng Bồ tát tu hành, nói về tiền thân Phật Thích Ca tu Bồ tát đạo để thành Phật.

Kinh Hoa Nghiêm cũng là một phương tiện của Phật. Kinh này vẽ ra lộ trình tu của một chúng sanh phát tâm từ ngục A tỳ tiến dần đến quả vị Như Lai, phải tuần tự trải qua quá trình Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi hướng, Đẳng giác, Diệu giác. Khi Phật Thành đạo ở Bồ đề đạo tràng, những người có tư cách tiếp cận Ngài phải là Đẳng giác Bồ tát. Các Bồ tát này đông như vi trần, nhưng phàm phu không thấy được. Phật thuyết kinh Hoa Nghiêm cho Bồ tát Đẳng giác, diễn tả toàn bộ sự nghiệp tu hành của Ngài trong hai mươi mốt ngày ngắn ngủi.

Phật bắt đầu nhập Định để thuyết kinh Hoa Nghiêm, là từ ngoài đi vào nội tâm. Thiền gọi là phản văn tự kỷ. Chúng ta là phàm phu khó sống được với thế giới nội tâm; vì chúng ta thường hướng tâm ra ngoài, gom nhặt bụi bậm, rác rưởi phủ lên người, rồi tự cho đó là "Ta”. Lần hồi đánh mất con người thực của mình. Ngài Duy Nhiên Thiền sư diễn tả chúng ta ngu muội, đánh mất con người thực của mình trong bài sám Quy Mạng: "Đệ tử chúng đẳng, tự di chơn tánh, uổng nhập mê lưu”.

Hãy thử suy nghĩ xem về phần vật chất, một ngày chúng ta phải đem vào thân này mấy bát cơm và coi đó là Ta. Nếu một ngày không nhồi vô bao nhiêu thức ăn thì "Cái Ta” này cũng chấm dứt ngay. Xa hơn nữa, thấy rõ chúng ta sử dụng năm giác quan để tiếp thu vinh nhục trần thế. Đây là năm tiền trạm khiến chúng ta tròng thêm lên mình những buồn khổ và xem buồn khổ đó là "Ta”. Như vậy, tứ đại và ngũ uẩn chuyên lượm lặt nhơ bẩn từ ngoài, không phải thực là Ta.

Theo Phật huệ quan sát, người tu khởi đầu dứt khoát gạt bỏ những gì không phải là Ta. Thực tu, không dại gì đem vui buồn trần thế vào tâm. A la hán bỏ những thứ lặt vặt, bằng cách đóng kín năm giác quan hay năm cửa tiếp xúc với bên ngoài. Ngăn chặn năm tiền trạm này xong, còn lại phần tinh thần là thọ, tưởng, hành, thức cũng theo đó bị xóa sạch. Vì sáu căn không tiếp xúc với sáu trần, thì vấn đề không được đặt ra. Sự hiểu biết chuyện thế tục và vui buồn vinh nhục do mắt thấy tai nghe bị cắt đứt, tâm hồn hành giả trở thành lắng yên. Tuy sanh thân tứ đại của hành giả vẫn còn, nhưng sự tác động của thân làm tâm đau khổ không có.

Trước kia, dại khờ lấy cái khổ làm Ta. Nay xóa cái khổ, chỉ còn lại cái Ta là chơn ngã. Kiểm soát thân tứ đại một lần nữa, thấy nó không còn đòi hỏi những cái vô lý như trước. Vì thọ, tưởng, hành và thức đã bị dẹp bỏ, thân đòi hỏi rất ít, ngược lại nó giúp ta rất nhiều. Trên bước đường tu, thâm nhập Phật huệ bằng cửa ngõ này sẽ dễ dàng bắt gặp sự cảm nhận ấy. Thật vậy, yêu cầu của cuộc sống con người không nhiều, nhưng lòng tham của con người thì bao nhiêu cũng không đủ. Tuy nhiên, xóa lòng tham rồi thì những gì không cần thiết cho thân, không chi phối ta được nữa.

Phật cũng dạy "Ngũ ấm xí thạnh khổ”, khổ sanh ra chỉ vì cung ứng cho thân quá dư thừa. Ý thức như vậy, hành giả giảm thiểu việc ăn uống, thì đời sống trở nên thanh thản, khác với người thế tục. Đó là trạng thái chuẩn bị bước vào cửa Thiền, thâm nhập Phật huệ. Ăn uống đơn giản vẫn khỏe mạnh và sinh hoạt cơ thể của hành giả không giống người bình thường. Nhịp tim đập tự hạ xuống, hơi thở rất nhẹ, số lượng máu lưu chuyển trong cơ thể cũng chậm, nên lượng hữu cơ không bị đốt nhiều. Phật không ăn trong bốn mươi chín ngày Thiền định dưới cội Bồ đề, vì Ngài biết sử dụng năng lượng tích trữ trong cơ thể.

Đi sâu vào thế giới Thiền định hay thế giới tâm linh là đã diệt ngũ uẩn, chúng ta trở thành gỗ đá đối với người thế gian, nhưng sẽ bắt gặp và sống với những người bạn không ăn, không tranh giành, nói với ta kinh nghiệm tu chứng. Đánh dấu từ khởi điểm này mới coi như thực sự bắt đầu tu. Hành giả nhìn lại thấy giai đoạn từ trước đến sơ quả thực là vô ích, vì làm những việc không đáng làm mà Tổ Huyền Giác quở trách rằng phí cả cuộc đời tu hành. Như người giang hồ dãi nắng dầm sương, lang thang làm kẻ phong trần cho đến già, cũng chẳng được gì "Đa niên uổng tác phong trần khách”.

Từ Sơ quả bước vào Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, Phật mới gặp Kamala và đi lên thế giới Tứ Không, Ngài gặp Uất Đầu Lam Phất. Đi cùng tột thế giới tâm linh này, Ngài gặp Bồ tát từ Sơ Địa đến Thập Địa, Đẳng giác Bồ tát. Phật kiểm tra toàn bộ quá trình tu hành Bồ tát đạo của họ đúng hay sai, bằng cách thuyết kinh Hoa Nghiêm cho Bồ tát Đẳng giác trong hai mươi mốt ngày ở thế giới Thiền định, không phải nói cho loài người chúng ta.

Có thể nói kinh Hoa Nghiêm là phương tiện thứ nhất của Phật đưa ra cho Bồ tát lớn. Nói xong kinh Hoa Nghiêm, Phật định nhập Niết bàn. Trời Phạm Thiên, hay nói cách khác là những người gần đạt đến tâm thanh tịnh thỉnh Phật thuyết pháp. Tám mươi ngàn Phạm Thiên nghe xong chứng quả vị Vô sanh nhẫn. Tất cả sự giáo hóa này chỉ diễn ra trong thế giới Thiền định ở bản tâm.

Đức Phật xả Định, trở lại thực tế cuộc sống gặp năm anh em Kiều Trần Như, giảng pháp Tứ đế, Ngài mới có thêm đối tượng loài người trên cuộc đời. Phật ngồi Bồ đề đạo tràng nhập Thiền định, người thế gian không biết Ngài làm gì. Nhưng trở lại thực tế cuộc sống, Ngài đi giáo hóa, chúng ta mới biết có một Đức Phật ở thế gian. Có thể nói Phật ở thế gian là phương tiện đối với Đức Phật thật và pháp của Phật phương tiện nói tất nhiên cũng là pháp phương tiện.

Suốt quá trình Phật thuyết pháp bằng ngôn ngữ từ Lộc Uyển đến Ta La song thọ tạo cho chúng ta văn tự Pháp Hoa kinh. Còn chân thật Pháp Hoa là pháp chỉ có chư Phật hiểu được. Phật Thích Ca phải điều động Đức Đa Bảo Như Lai đến chứng minh pháp chân thật. Ngài Nhật Liên khẳng định chân thật Pháp Hoa chỉ có Phật Thích Ca nói, Phật Đa Bảo nghe. Từ hàng Bồ tát trở xuống đều nghe pháp phương tiện. Pháp phương tiện thứ nhất được Phật nói cho Bồ tát Đẳng giác, phương tiện thứ hai nói cho Phạm Thiên, qua phương tiện thứ ba là pháp diễn tả bằng ngôn ngữ, nói cho nhân gian. Đến pháp phương tiện thứ tư, nói cho những người theo Phật đã nhập Thiền định.

Hàng Thanh văn nghe pháp ngôn ngữ, lần lần sống trong cảnh giới Thiền định, nghe Phật thuyết pháp qua tâm. Tâm họ tiếp nhận pháp, tâm với pháp là một, trở thành tâm pháp. Nhờ đó tuệ sanh, họ bắt đầu thấy sự vật giống Phật thấy, không qua dạng vinh nhục của cuộc đời. Họ nghe được pháp ở dạng không nghe mà nghe, vì Phật và La Hán đều nhập Thiền định, trong yên lặng tỏa sức sống kỳ diệu. Sinh hoạt của cảnh giới tinh thần này, người trần không nghe được. Từ đó, Phật dìu dắt các La hán tiến lên quả vị Bồ tát. Nghĩa là họ cũng trở về pháp vô ngôn, để thấy chân thật tướng các pháp hay Pháp Hoa.

Chúng ta thường lầm lẫn, chấp pháp phương tiện làm cứu cánh thì phương tiện không còn tác dụng giải thoát, lại trở thành ràng buộc ta. Thí dụ tượng Phật nhằm giúp chúng ta hình dung Đức Phật thật và quan sát lời nói, hành động, suy tư của Phật để làm theo mới là việc chính yếu. Thế nhưng phần lớn chúng ta vẫn coi tượng Phật là Phật. Phật bê tông không cứu chúng ta được. Có một vị Tổ đã nhắc nhở: "Ông Phật bằng gỗ không độ được lửa, ông Phật bằng vàng không độ được lò đúc, ông Phật bằng đất không độ được nước”. Tuy nhiên, nương với Phật tượng trưng là phương tiện để tìm ra ông Phật độ thoát chúng sanh. Riêng tôi, từ nhỏ đã sớm ý thức được sự tác dụng của Phật phương tiện. Tôi siêng lạy Phật xi măng, tụng kinh bằng giấy. Nhờ đó, trí tuệ mỗi ngày một phát huy, giải quyết việc xảy đến với mình tốt đẹp hơn.

Đối trước tượng Phật, độ thành kính giúp ta phá được màn vô minh ngăn che ta và Phật. Tượng có sức thu hút mạnh, kéo ta rời thực tế, phiền não vụt tan biến theo. Tập trung tư tưởng đến độ quên cả sinh mệnh, quên đi sự hiện hữu của thân tứ đại, thấy được Phật thật với ba mươi hai tướng hảo, khiến tâm ta hoan hỷ, mới cảm thông, liên hệ với Phật được. Tượng chỉ có giá trị đối với người nhận được hương vị giải thoát. Người thấy tượng vẫn sừng sững một khối bê tông, thì hoàn toàn tuyệt phần, muôn đời họ vẫn đứng ngoài thế giới an vui mầu nhiệm của chư Phật.

Giáo pháp Phật soi sáng tâm con người, thường được ví như ngón tay chỉ mặt trăng hay thuyền dùng qua sông, tức là phương tiện làm cho tâm Từ mở rộng, trí tuệ phát sanh mới chính yếu. Người nghe pháp, trí không phát triển, đạo đức không tăng, là họ đã kẹt phương tiện. Vấn đề quan trọng ở điểm biết vận dụng giáo lý làm phương tiện sống của mình, giống như cơm ăn hay hơi thở hàng ngày để giúp chúng ta sống khỏe mạnh. Nếu cơm và hơi thở này cứ mang vô mà không thải ra, chắc chắn sẽ chết. Cũng vậy, Phật pháp cứ gom vô, làm chúng ta mắc bệnh giáo điều, chẳng khác gì người chết vì bội thực, ăn không tiêu. Cũng từ ý này, Tổ sư dạy:

Kinh điển lưu truyền tám vạn tư,

Học hành không thiếu cũng không dư,

Đến nay tính lại đà quên hết,

Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như

Học không thiếu cũng không dư, nghĩa là học để tu. Học nhiều để phiền não nhiều, thực vô ích. Học đủ nhưng không giữ lại, vì giữ lại sẽ thành bệnh. Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như là tâm chơn như bình đẳng tuyệt đối hay đó là trí tuệ của Phật, là đại viên cảnh trí theo Duy thức học ví như đài gương sáng, hoặc viên ngọc ma ni theo Pháp Hoa. Tất cả màu sắc hình ảnh đều hiện đủ trong đó. Hành giả không giữ lại một thứ nào, nhưng không có gì không biết.

Học xong và tu đắc đạo, tất cả bỏ lại phía sau. Lời nói là phương tiện để tâm hành giả thanh tịnh dần. Người sơ tâm học đạo cần phương tiện thấp nhất là ngữ ngôn văn tự. Phật dùng vô số phương tiện khai ngộ cho hạng căn cơ thấp. Nhưng đến nước Ma Kiệt Đà, Phật yên lặng, từng bước chuyển tâm hàng Thanh văn qua Bồ tát đạo. Ba năm ở Ma Kiệt Đà, Phật lặng thinh không nói, Bồ tát nhìn việc làm của Ngài mà làm theo, lần hồi đi sâu vào trạng thái tu hành bằng tâm. Đây là giai đoạn hai, thuộc thân giáo của Phật. Về sau Thiền tông triển khai pháp này, Thiền sinh học hạnh Thiền sư không qua ngôn ngữ gọi là giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự. Không thuyết pháp, vì càng nói nhiều càng vướng mắc giáo tướng, ngôn ngữ. Vướng mắc nhiều trở thành hý luận, tâm vọng động thêm. Giai đoạn ba mới thực sự thuyết Pháp Hoa kinh ở núi Linh Thứu, thâu sáu mươi tiểu kiếp thành một niệm để thâm nhập đạo tràng Pháp Hoa.

Trong một đời Đức Phật giáo hóa, Ngài giúp đệ tử trồng căn lành từ thời Lộc Uyển, trưởng dưỡng thân tâm ở thời Kỳ Viên, Trúc Lâm tịnh xá và đến đây nở hoa Linh Thoại hay không trung thuyết pháp của hội Pháp Hoa. Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát đạt đến tâm Không, không còn vướng bận trần thế, nhận được kinh Pháp Hoa do Phật truyền trao. Hay đó là giai đoạn tâm ấn tâm, thần truyền thần, vượt ngoài lưới ma, thâm nhập huệ Như Lai, không còn dùng lời nói và hành động để chỉ dạy, nhưng tâm hành giả linh hoạt đến độ cao. Một niệm tâm mà thông cả Pháp giới, thấy suốt mười tám ngàn thế giới. Giai đoạn ba thuộc phần phát triển tịnh tâm. Giai đoạn một và hai là tịnh hóa tự tâm.

Nếu không theo thứ tự này sẽ không đạt kết quả. Tự cho mình đã học hết kinh điển, không có gì để trưởng dưỡng tự tâm cũng vô ích; nhiều khi trở thành chướng ngại, tâm chẳng những không trong sáng, còn hóa ra phiền não, hành giả đã tu sai pháp, càng tu lâu càng đọa sâu. Người xưa có nói:

Nhất niên Phật tại tiền,

Nhị niên Phật thăng thiên,

Tam niên Phật bất kiến.

Nghĩa là học nhiều, nghe pháp nhiều, lạy sám hối nhiều, nhưng đến khi đụng việc, lập tức tham sân phiền não; vì nghe nhiều, tự tánh bị ngăn che, tâm trở thành mờ không thấy đạo. Cần tịnh hóa tự tâm trước, cố gắng giữ tâm trong sáng mới phát ban đầu, đừng cho thay đổi.

Pháp Phật có công năng tẩy sạch tâm phiền não. Người dùng giáo pháp sai, làm tâm nhiễm ô, thành bệnh nhất xiển đề, Phật không cứu được. Người chưa tu, họ phiền não, nhưng thấy Phật lại phát tâm. Ngược lại, người trong đạo nhìn Phật, lạy Phật mỗi ngày, vẫn sanh phiền não, đành chịu thua. Họ giống như kẻ sử dụng lờn thuốc, không còn tác dụng. Hình ảnh tiêu biểu cho ý này là Vô Não hung dữ thấy Phật buông dao thành La hán. Nhưng Thiện Tịnh Tỳ kheo là em họ của Phật, sống gần Phật mà Ngài không độ nổi.

Nghe thuyết pháp, tâm bừng sáng. Cuộc đời dù sóng gió bao nhiêu, hành giả vẫn an trụ pháp, tiến tu được. Ngược lại, nghe thuyết pháp, cuộc sống vẫn đầy bất mãn khó chịu và nghiệp ùn ùn nổi dậy. Phải biết đó không phải là chỗ của ta tu. Nếu không bỏ đi, ta sẽ đọa nhất xiển đề.

Giai đoạn một, lấy giáo pháp trưởng dưỡng tự tâm, tâm thành thanh tịnh. Giai đoạn hai, không nghe pháp, tâm vẫn thanh tịnh. Ta quan sát, suy nghĩ thành quả của người và chọn được lẽ sống cho mình, người nhìn thấy phát tâm theo. Giai đoạn ba, từng niệm tâm ta phát triển những điều mà trước chưa có, Thầy không dạy. Ở giai đoạn này hành giả Pháp Hoa lấy Phật hộ niệm làm chính. Phật huệ rọi tâm, tâm bừng sáng, biết việc chính xác và làm có kết quả. Còn giai đoạn trước, làm đúng lời Phật, lời Thầy dạy lại thành phản Phật, phản Thầy; vì hoàn cảnh đổi khác thì y kinh giải nghĩa, Phật oan tam thế.

Đức Phật xác định ở thời mạt pháp, không còn kinh nào khác ngoài kinh Pháp Hoa lưu truyền trong Diêm phù đề. Chúng ta phải hiểu kinh Pháp Hoa là kinh phát xuất từ tâm bừng sáng của người ngộ đạo, kinh do Phật hộ niệm, do Bồ tát Đại Trang Nghiêm mang đến, do lòng đại bi thương chúng sanh mà hành đạo. Chỉ có kinh Pháp Hoa đó tồn tại sau Phật nhập diệt năm trăm năm, không phải là 28 phẩm kinh Pháp Hoa mà chúng ta tụng thường ngày.

Phần lớn chúng ta chấp văn tự, nên chết ngộp trong 28 phẩm. Chúng ta không phủ nhận kinh Pháp Hoa văn tự. Tuy nhiên, phải biết dùng 28 phẩm rọi vào tâm, để thấy biết như thật và làm đúng chân lý, lợi ích cho muôn loài. Đó là Pháp Hoa tâm, do tâm khai ngộ mới có.

Ngài Nhật Liên phán giáo cũng chia thành ba vòng. Vòng thứ nhất gồm tất cả kinh mà Phật thuyết trước kinh Pháp Hoa nằm trong phương tiện thuộc Tiểu thừa. Vòng thứ hai là kinh Pháp Hoa 28 phẩm thuộc Trung thừa. Và vòng thứ ba là kinh Pháp Hoa của Đại thừa lưu xuất từ tâm thanh tịnh; theo đó tùy chỗ, tùy duyên giáo hóa chúng sanh, không có mô hình cố định.

Đối với tâm thanh tịnh trong sáng của hành giả Pháp Hoa, kinh ghi: "Nhứt thiết thế gian tư sanh sự nghiệp”, nghĩa là bất cứ việc nào trên thế gian cũng là đạo, không phải chỉ giới hạn ở chùa. Hành giả Pháp Hoa nếu xuất gia thì làm Tỳ kheo kiểu mẫu. Nếu là chính khách thì được dân kính, dân thương. Nếu là nông dân, thì năng suất cũng vượt hơn người. Tất cả việc đều lợi ích cho mình, cho người và làm đẹp cuộc đời. Bồ tát giáo hóa chúng sanh ở lãnh vực nào cũng xuất sắc, làm Thầy, mới thực là hành giả Pháp Hoa.

Đức Phật cũng thể hiện điều này. Đọc lịch sử, chúng ta thấy Phật Thích Ca là người khỏe mạnh nhất so với các lực sĩ khác. Đối với triết gia, Ngài là người thông minh nhất. Đối với nghệ sĩ, Ngài là người đàn hay nhất… Đức Phật đa tài như vậy, mới được tôn xưng là Thầy của trời người.

Các nhà Sư ngộ đạo theo kinh Pháp Hoa là người được Phật hộ niệm, cho nên khi gặp khó khăn, các ngài ổn định được. Điển hình như Khuông Việt, Vạn Hạnh, Tuệ Tĩnh giải quyết được mọi vấn đề bức bách mà xã hội bó tay chịu thua, nên các ngài được kính nể.

Có thể khẳng định kinh Pháp Hoa đồng nghĩa với đáp ứng được nhu cầu của xã hội, của con người. Nó đưa loài người đến hạnh phúc an vui, giúp người trở thành bậc Thánh, làm được thật nhiều việc lợi ích trên thế gian, lòng vẫn trong sạch, hằng ở trong chánh định, an trụ thế giới bất tư nghì của Phật.

Phương tiện là những gì mà Phật xếp đặt và sống với thế gian để giúp chúng ta gặp Đức Phật cứu cánh. Kinh Pháp Hoa diễn tả phương tiện đưa tất cả Thanh văn, Bồ tát mười phương và Bồ tát Tùng địa dũng xuất thâm nhập Phật huệ trở về thế giới Thường Tịch Quang của Phật. Phương tiện không phải chỉ hạn hẹp trong phẩm Phương Tiện của kinh.

Phương tiện của Phật có hai phần là phương tiện lực và phương tiện trí lực. Phần truyền vào cho hành giả để hiểu biết, suy luận thuộc phương tiện trí lực của Phật. Phương tiện lực của Phật thì thiên biến vạn hóa. Tùy theo căn cơ, hoàn cảnh từng người một mà Phật cho họ phương tiện thích nghi khác nhau để tu hành. Và những phương tiện khác biệt này không chống trái nhau.

Phương tiện dù thuận hay nghịch, tốt hay xấu đều đưa hành giả đến giải thoát. Hiểu được phương tiện lực của Phật, nhìn lại cuộc đời hóa độ của Ngài, từ nghịch duyên như A Xà Thế hay Đề Bà Đạt Đa, dưới mắt của Nhị thừa là chướng ngại cho việc hoằng đạo của Phật; nhưng theo Pháp Hoa, đó chính là phương tiện mà Ngài đưa ra để giáo hóa chúng sanh. Hoặc những tranh chấp ở Kỳ Hoàn tịnh xá làm mọi người chán nản, cũng là phương tiện để họ hướng tâm về cảnh giới Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Cho đến các Bồ tát, Thanh văn hỏi Phật về vấn đề gì đều nằm trong phương tiện trí lực của Ngài truyền xuống cho họ hỏi. Nương công đức của Phật, Tú Vương Hoa Bồ tát hỏi được việc làm và thần thông bất khả tư nghì của Bồ tát Dược Vương.

Hiểu xa hơn nữa, khi chúng ta ở bước đường cùng, trắng tay vì sự nghiệp, của cải hoàn toàn sụp đổ mà phát tâm Bồ đề, an nhiên tự tại thọ trì kinh Pháp Hoa, là chúng ta đã nắm bắt được một trong muôn ngàn chiếc phao phương tiện của Phật ban cho. Nếu không có phương tiện trí lực của Phật điều động làm phát khởi và trưởng dưỡng Bồ đề tâm, chúng ta cũng trở thành thân tàn ma dại như bao nhiêu chúng sanh u mê khác. Nhưng nghịch duyên làm ta đau khổ chẳng còn thiết sống, thì không phải là phương tiện lực của Phật. Với trí tuệ Ba la mật, Phật thấy rõ căn tánh hành nghiệp của chúng sanh, đáng dùng pháp gì độ họ. Có người phải để cho rơi vào địa ngục mới phát tâm được, vì hạnh phúc đầy đủ chỉ làm cho họ chìm đắm trong năm món dục, cuốn họ trôi lăn trong sanh tử luân hồi.

Cảm nhận được điều này, ta thấy việc làm của quỷ vương hành hạ tội nhân cũng không nằm ngoài màng lưới phương tiện lực của Phật. Nhưng có người đáng dùng phước lộc hưởng an lành để tiến tu, thì Phật cung cấp tất cả điều kiện thuận lợi. Thậm chí Ngài khiến cả trời Đế Thích hay tám muôn bốn ngàn Thiên nữ đích thân trỗi kỹ nhạc đến rước.

Nắm được chiếc phao phương tiện ban đầu của Phật ban cho, ta phát tâm bước vào đạo. Nương công đức của Phật tu tập, hột giống lành nẩy mầm, khiến ta phát được đại nguyện thọ trì kinh Pháp Hoa. Muôn ngàn phương tiện mầu nhiệm khác sẽ dần dần đến với ta đầy đủ. Dưới mắt hành giả Pháp Hoa, chẳng những sự giúp đỡ tùy thuận là phương tiện lực của Phật cho ta, cả đến những âm mưu chống phá, xuyên tạc cho đến giết hại cũng là phương tiện lực của Phật.

Ngài Nhật Liên Thánh nhân đã chứng nghiệm một cách sâu sắc những nghịch duyên mà Phật đã bố trí cho ngài trên bước đường hành đạo. Ba lần bị tông phái khác và các lãnh chúa giết hại, ba lần bị đưa đi đày đến những vùng chỉ có băng tuyết không một loài cây cỏ nào sống được, mà ngài vẫn thản nhiên đứng vững trên đỉnh Pháp Hoa, lại còn vui mừng xem đó là một dịp tốt hiếm có để ngài cúng dường thân mạng cho chư Phật, cho pháp Tối thượng thừa. Và chỉ có con đường tắt này giúp ngài sớm thành tựu Pháp thân.

Theo Pháp Hoa, phương tiện của Phật rộng đến độ tất cả sinh hoạt thế gian về mọi phương diện chính trị, xã hội, kinh tế hay tôn giáo, v.v… đều thuộc phương tiện trí lực của Ngài. Một cuộc khủng hoảng kinh tế hay sự xuất hiện của một tà đạo, hoặc một chế độ độc tài đều có sự lợi ích của nó, vì đó là những chiếc phao của Phật bố trí cho những ai có nhân duyên căn lành nương theo để ngược dòng sanh tử trở về bến giác.

Chúng ta cảm nhận được sự sắp xếp vô hình mầu nhiệm này qua trường hợp chứng đắc Pháp Hoa tam muội của ngài Khuy Cơ. Khi Võ Hậu lên nắm quyền, trong phong trào triệt hạ những khai quốc công thần của nhà Đường, bà đã tru di cả dòng họ của ngài Khuy Cơ. Chỉ trên bước đường vân du hóa độ, ngài đã thể nhập Pháp Hoa Tam muội ở một ngôi chùa nghèo nàn, hẻo lánh. Trong khi Đường Thái Tông trọng vọng kính nể, cung cấp phương tiện đầy đủ cho ngài ở Trường An lại không đủ để đưa con người tràn đầy suy tư thể nhập thế giới Phật.

Phương tiện lực không cùng. Mỗi đoạn đường vượt qua, nhìn lại thấy mọi việc thành tựu đều nhờ Phật lực gia bị. Hành giả không biết cũng như cây hấp thụ nước, không tự biết sự hấp thụ của nó. Phật xác định rằng trong quá khứ, các Đức Phật dùng vô số phương tiện, nhưng tất cả pháp này đều là Nhất Phật thừa. Trong vị lai cũng vậy và hiện tại ở mười phương, trăm ngàn muôn ức Phật cũng dùng mọi phương tiện để diễn giảng pháp Nhất thừa. Chúng sanh nghe pháp đều chứng Nhứt thiết trí.

Ngài là Thích Ca Mâu Ni hiện ra trong đời ngũ trược, tùy theo căn tánh không đồng của chúng sanh, tùy theo vị trí và thời gian mà nói pháp khác nhau. Các pháp sai biệt này cũng chỉ nhằm một mục tiêu duy nhất là đưa về pháp Nhất Phật thừa. Nếu Phật nói thẳng Nhất thừa, chúng sanh trí kém, đang bị nung nấu trong Nhà lửa tam giới, không thể hiểu, không thể tu được. Phật phải dùng phương tiện khai ra Tam thừa là Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Khởi đầu đối tượng là Thanh văn, Ngài thấy rõ các vị này giống như người bị mũi tên độc, cần được cứu mạng sống ngay; nghĩa là cần chữa gấp vết thương đau khổ của họ. Thật vậy, những vị này là những người bị thất bại, chèn ép, bóc lột, nên họ mang tâm niệm ghê sợ thế gian. Phật phải ban cho họ pháp thích hợp là Niết bàn. Việc làm của Bồ tát như tịnh Phật quốc độ, bố thí, cúng dường, cứu độ chúng sanh không thể đem giảng dạy cho người chán đời, chỉ muốn lánh xa cõi trần. Phật mới dạy họ hạnh Sa môn, ngày ngày mang bình bát đi khất thực.

Nương vào Niết bàn của Tam thừa, Thanh văn không bị phiền não làm nhiễm ô và cũng không còn ham mê năm món dục thô hèn, nên không đọa trong sanh tử. Lần hồi họ tiến tu được. Khi tâm lượng các vị Thanh văn rộng lớn hơn, Phật dạy họ đạo Bồ tát. Nhưng họ không tu, lại dạy người khác tu; vì lúc nào họ cũng mang tâm niệm Không, vô tác, vô nguyện. Tới hội Pháp Hoa, những người được Thanh văn dạy, đắc đạo, đắc quả, đắc pháp như nhóm Bạt Đà Bà La Bồ tát và được Phật thọ ký. Lúc bấy giờ các vị Thanh văn mới tỉnh ngộ, phát tâm Bồ đề. Phật mới diệt Hóa thành để dẫn họ đến Bảo sở. Ngài cho biết nếu cứ trụ mãi ở Niết bàn, đến khi Thế Tôn nhập diệt, Niết bàn sẽ mất. Vì đó cũng chỉ là phương tiện lực do Phật tạo ra để Thanh văn tạm nghỉ ngơi mà thôi.

Trong bốn mươi chín năm nói pháp, Phật dùng vô số phương tiện giảng nói các pháp giúp chúng sanh không kẹt trong ngũ dục thế gian. Đến hội Linh Sơn, hàng Thanh văn xa rời sự chấp trước và lên được bờ giải thoát, Ngài mới dạy Pháp Hoa gọi là khai Tam thừa hiển Nhất thừa hay khai phương tiện bày chân thật.

Riêng những người coi phương tiện là cứu cánh, nghe Phật dạy xa lìa ảo tưởng điên đảo của cuộc đời. Họ lại nhận lầm là bỏ luôn cuộc đời, nhận lầm bỏ tục xuất gia là bỏ luôn tri thức và mạng sống, trở thành khôi thân đoạn trí. Ngày nay, nhiều người cũng lầm tưởng tu là phải vào chùa và bỏ tất cả. Nhưng vào chùa không học hành, rồi cũng chẳng làm được gì, phí cả cuộc đời và cuối cùng trở thành tăng thượng mạn như Tổ Quy Sơn quở trách "Niên cao lạp trưởng không phúc cao tâm”.

Ngài Nhật Liên ví người tu để bỏ hết, không được gì, chẳng khác nào như cá bị bắt lên bờ để khô lần đến chết. Thanh văn thừa hay pháp Tứ đế mà Phật dạy cho hàng Thanh văn thấy được cái thật của cuộc đời, điều đáng bỏ và điều không nên bỏ. Nhờ đó, bỏ được dục nhiễm, trau giồi đạo hạnh, tâm trở nên sáng suốt. Thấy đúng và sống đúng theo hoàn cảnh của mình, làm gương tốt cho người.

Gặp hàng Duyên giác vốn có sẵn phước đức trí tuệ, Phật phân tích cho thấy mũi tên và chất thuốc độc. Duyên giác có thể ví như nhà nghiên cứu chuyên đề. Họ biết sử dụng trí khôn, đạt được năng suất cao thay cho sức lao động bằng tay chân. Dưới mắt quan sát của Duyên giác, mọi hiện tượng được tiếp nhận bằng suy tư qua pháp Thập nhị Nhân duyên, đưa họ đến một đời sống giải thoát. Một chiếc lá rơi, một cơn gió thoảng hay ánh sao lung linh đều là những bài pháp giúp họ ngộ đạo.

Cuối cùng, đối với Bồ tát có đủ đức hạnh và hiểu biết, Phật dạy những vị này sáu pháp Ba la mật; nghĩa là vận dụng hiểu biết và đạo đức để giáo hóa chúng sanh. Bồ tát có khả năng nhận thức sâu xa về siêu hình, Phật chỉ rõ cho thấy sự ân oán liên hệ nhiều đời của Bồ tát đối với chúng sanh và dạy cách gỡ rối từ từ. Nói cách khác, sự liên hệ xấu ác của chúng ta chằng chịt từ vô lượng kiếp đươc đổi thành hương sen, là cách tu của Bồ tát để thành Phật.

Thanh Văn, Duyên giác hay Bồ tát là ba pháp phương tiện ứng cảm, tùy cơ. Bên ngoài là Thanh văn hay Quyền thừa Bồ tát, nhưng thực sự bên trong là ẩn mật Pháp Hoa kinh, ngầm giáo hóa pháp của Bồ tát. Các pháp phương tiện mà Ngài dạy trước nếu không phải là nhân của Pháp Hoa, thì khi nghe pháp chân thật Nhất thừa, các đệ tử không thể nào hiểu và phát tâm tu được.

Đức Phật có đủ hai phần phương tiện lực và phương tiện trí lực và khai ra tất cả phương tiện thích ứng để sau cùng dẫn về Nhất Phật thừa. Vì vậy, Ngài làm bất cứ việc gì trên thế gian, cũng quy về Phật thừa. Trong cuộc đời hành đạo của Phật, mọi điều nghịch thuận xảy đến với Ngài, nhưng cuối cùng, tất cả đều quy ngưỡng Ngài. Và sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt hơn hai ngàn năm trăm năm, chúng ta vẫn còn nương được công đức của Phật, an nhiên tu học.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Phật nắm được quy luật mới vận dụng quy luật, biết rõ các pháp môn mới dạy chúng ta ứng dụng các pháp môn,mới từ cứu cánh khai ra phương tiện. Khôngphải ai cũng khai phương tiện được. Khi chưa thành Phật, ta đang ở vị trí nào thì phương tiện của ta ở vị trí đó. Vị trí là phiền não, tất nhiên khai phương tiện cũng phiền não. Nếu ta không có trí lực của Phật để quan sát sự biến đổi liên tục của các pháp, mọi phương tiện của ta áp dụng không thể dẫn về Phật thừa và chỉ đưa đến tội lỗi mà thôi.

Mục tiêu ra đời của Đức Phật để giúp chúng ta thấy được Phật, hiểu Phật, làm theo Phật và sống như Phật. Từng bước tu hành, chúng ta sẽ đạt được bốn phần là khai, thị, ngộ và nhập Phật tri kiến.

Đức Phật khai tri kiến bằng cách đưa ra nhiều pháp môn tu. Chúng ta tu pháp nào cũng được với điều kiện duy nhất là phải phát triển tri kiến của chính mình. Đức Phật hiện hữu trên cuộc đời mang thân người nhằm nói với chúng ta rằng Ngài tu thành Phật và ta tu cũng sẽ thành Phật. Từ ý này, các kinh đều diễn tả năng lực của con người, nếu biết sử dụng sẽ đạt được Nhứt thiết chủng trí. Chúng sanh mê lầm lại dùng năng lực của họ vào việc tội lỗi. Với tư cách một con người, Đức Phật sống, hành đạo, sinh hoạt như thế nào là Ngài bắt đầu công việc khai tri kiến.

Có thể nói khai tri kiến không phải chỉ có ở phẩm Phương Tiện. Thực sự tất cả mọi việc Phật làm trong cuộc đời đều là chìa khóa mở tri kiến cho chúng ta thấy. Tuy nhiên, thấy được cũng không đơn giản. Từng chặng đường một, tu theo Thanh văn thừa cắt bỏ phiền não bám vào tâm làm chúng ta dại khờ. Mỗi người tùy theo hoàn cảnh và hiểu biết riêng mà vận dụng khả năng của mình, phát triển sự hiểu biết. Khai tri kiến và thị tri kiến để hành giả nhìn vào thấy Phật là tấm gương sáng, là người biết tất cả và làm được tất cả. Hay nói cách khác, giúp chúng ta hiểu được thế nào là tri kiến Như Lai.

Làm cho mọi người ngộ Phật tri kiến là nhận được Phật tri kiến. Nhận được tri kiến không có nghĩa là nhận tri kiến của Phật Thích Ca, nhưng phải nhận tri kiến của chính chúng ta. Thời Đức Phật tại thế, con người bị Bà la môn mê hoặc, trao quyền quyết định cho Thượng đế, thủ tiêu tri kiến của mình. Đức Phật hiện thân con người, chỉ cho thấy chính mình mới có quyền quyết định vận mạng của mình. Nhận được ta là người có khả năng thành Phật, chúng ta mới bước theo con đường của Phật Thích Ca đi, đạo đức mỗi ngày cao hơn, năng lực lớn thêm và trí tuệ phát triển nhiều hơn là đã nhập vào tri kiến Như Lai. Từng bước chân đi, hành giả có Phật Thích Ca ở bên cạnh. Hành giả gặp Ngài trong trình độ tu chứng của mình. Có thâm nhập trí tuệ Như Lai mới hiểu được tri kiến Như Lai.

Muốn độ ba hạng người nhận thức sai lầm, Phật phải khai ba phương tiện Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát để dễ nhận biết. Cũng như vì có người tu khổ hạnh, Phật phải lao vào cuộc sống khổ hạnh và khổ hạnh vượt hơn người khác cho đến ngã gục xuống, để chỉ cho mọi người pháp tu này hoàn toàn sai lầm, càng tu cơ thể càng yếu, trí càng đần độn.

Ngài khai ra pháp Trung đạo, không chạy theo dục vọng xa hoa tàn phá con người, cũng không đốt thân theo những người khổ hạnh. Chỉ ăn những thứ cần thiết nuôi cơ thể khỏe mạnh và giữ trí tuệ sáng suốt. Tu theo Trung đạo, trí tuệ mỗi ngày phát triển hơn, hiểu biết chính xác lần, đến độ tự nhiên thành đạo.

Giáo sư Motai kiến giải sự thành đạo của Đức Phật là một sự phát triển tự nhiên. Theo ông, nếu chúng ta biết nuôi trí tuệ, nó sẽ phát triển đều đặn. Với kinh nghiệm tu hành, ông nhận thấy có những điều lúc nhỏ ông không biết vận dụng trí để hiểu. Nhưng đến 30 tuổi, ông vận dụng được nó, từ đó từng nấc trí tuệ phát huy thêm. Đối với những điều ông phải đè nén chịu đựng thì sau 30 tuổi, tự nhiên nó mất lần và ông nhìn sự vật chính xác hơn, có cảm tưởng ông đang bước vào tri kiến Phật, cảm thấy phiền não không đoạn mà tự hết. Vì mãi theo đuổi mục tiêu, dồn sinh hoạt cho việc phát triển trí tuệ, phiền não tự tiêu hao lần, đèn trí tuệ tự sáng. Ông kết luận rằng những phiền não trước kia đã nuôi tâm Bồ đề của ông. Nhờ ông dám giáp mặt với phiền não, ăn nuốt tất cả phiền não để chuyển thành tri giác, làm lợi ích cho mình và người.

Hai phần khai và thị tri kiến là công việc của Phật đã làm xong. Còn lại ngộ và nhập tri kiến hay không, tùy nơi chúng ta. Lộ trình đi đến Nhất Phật thừa có sai biệt. Từ Thanh văn tu pháp Tứ đế, Duyên giác tu pháp Thập nhị Nhân duyên và sáu pháp Ba la mật của Bồ tát, cho đến tu phước báo nhân thiên, giữ Ngũ giới hay Thập thiện giới cũng lần thành Phật.

Xa hơn, Phật còn triển khai tám mươi bốn ngàn pháp môn thích ứng với tất cả nghiệp lực của chúng sanh từ địa ngục A tỳ đến Bồ tát, ai tu cũng được và tu hình thức nào đầy đủ công đức đều thành Phật, không thể thành gì khác ngoài Phật. Tất cả việc lớn nhất đến nhỏ nhất, như người chỉ cúng dường một cánh hoa hay cúi đầu chào Phật cũng trồng căn lành với Ngài. Hoặc người lòng tán loạn vụt nhớ Phật, chỉ xưng Nam mô Phật, lòng họ vơi buồn, cũng là hạt nhân của Bồ đề. Họ lầnchứa nhóm công đức sẽ thành Phật. Nghĩ đếnPhật, chỉ một niệm tâm cảm thấy an lành làngười có niềm tin. Chúng ta học nhiều và giỏi đến đâu chăng nữa, nhưng không nhận được sự an lành trong giáo pháp Phật cũng trở thành vô ích.

Phật xác định trí tuệ bậc nhất như Xá Lợi Phất còn phải dùng niềm tin vào đạo. Ngài Thế Thân dạy ao nước dù đục nhưng phẳng lặng, ánh trăng vẫn hiện vào. Cũng vậy, tâm người dù tội lỗi đến đâu, nhưng có niềm tin, cũng vào Phật đạo được. Ngược lại, nước ao dù trong sạch cách mấy mà sóng gợn hoài, cũng không thể thấy trăng. Niềm tin của hành giả ví như mặt phẳng của nước. Niềm tin là nhịp cầu dẫn chúng tathâm nhập Phật tri kiến. Kinh Hoa Nghiêm xác định niềm tin là mẹ sanh ra các công đức. Hành giả vững niềm tin, Phật lực nhất định rọi đến tốt đẹp.

Phật lực được giáo sư Suzuki cụ thể hóa bằng đài truyền hình và tâm hay niềm tin của chúng sanh là máy truyền hình. Đài truyền hình lúc nào cũng sẵn sàng truyền xuống hình ảnh và âm thanh, nhưng máy truyền hình hư nên không bắt được hình và không nghe được âm thanh. Cũng như Phật lực tỏa ra cho mọi chúng sanh, nhưng niềm tin chúng ta lúc mạnh lúc yếu, tâm chúng ta khi thanh tịnh lúc nhơ bẩn, không thể liên tục tiếp nhận được Phật lực. Bồ tát điều chỉnh thân tâm đến độ hình ảnh và ngôn ngữ Phật luôn ảnh hiện nơi thân, bất cứ việc làmnào của các ngài cũng lợi ích cho chúng hữutình. Ngay cả chỉ nghe đến tên của các ngài, chúng sanh liền phát tâm Bồ đề, thoát luân hồi khổ.

Ngài Trí Giả căn cứ vào kinh Pháp Hoa giải thích pháp phương tiện và pháp chân thật hay Đức Phật Pháp thân thường trú và Đức Phật sanh diệt như sau:

- Vị liên cố hoa, hoa khai liên hiện, hoa lạc liên thành (Liên Hoa luận).

- Vị thật thi quyền, khai quyền hiển thật, phế quyền tồn thật (Quyền Thật luận).

- Vị bổn thùy tích, khai tích hiển bổn, phế tích lập bổn (Bổn Tích luận).

Nghĩa là vì chúng sanh không hiểu nổi pháp chân thật, Đức Thế Tôn phải mất bốn mươi năm nói pháp phương tiện hay quyền thừa. Và chúng sanh cũng không thấy được Phật Pháp thân Tỳ Lô Giá Na, Ngài mới hiện ra đời một Đức Phật Thích Ca bằng xương thịt.

Đức Phật Pháp thân là Phật không sanh diệt, nên phải có một Đức Phật Thích Ca mang thân sanh diệt nói pháp. Ý này được kinh Pháp Hoa diễn tả bằng hình ảnh ông trưởng giả cởi chuỗi anh lạc, mặc áo thô rách, tay cầm đồ hốt phân để chỉ cho Bổn Phật hay Phật Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na đầy đủ uy đức; nhưng Ngài xuất hiện ở thế gian làm thái tử Sĩ Đạt Ta, mang thân tứ đại ngũ uẩn và kèm theo tay cầm đồ hốt phân chỉ cho phương tiện của Phật sử dụng đi vào cuộc đời.

Phật thuyết pháp, giáo hóa nhằm mục tiêu hốt dọn phân nhơ, nghĩa là dẹp tan những tranh luận không có lối thoát của chín mươi ba học thuyết ngoại đạo thời bấy giờ bừa bãi trong xã hội. Ngài thương mọi người trên cuộc đời suy nghĩ sai lầm, hành động sai lầm dẫn đến quả khổ đau. Ngài mới đưa ra Tam thừa quyền để hiển Nhất thừa thật, hay tám mươi bốn ngàn phương tiện tu nhằm quét dọn tám mươi bốn ngàn phiền não trần lao cho chúng sanh, dẫn mọi người đến cứu cánh thành Phật.

Mang thân con người sanh diệt hữu hạn đi vào nhân gian, Ngài tu hành thành Phật, nghĩa là làm nở tung con người bình thường để con người chân thật bên trong hiện ra. Quá trình năm năm tìm đạo, sáu năm khổ hạnh và bốn mươi chín năm thuyết pháp chứng tỏ Đức Thích Ca không là người bình thường như bao nhiêu người khác. Điều đó mở ra cho chúng ta thấy cốt lõi Tỳ Lô Giá Na Phật bên trong của Ngài. Khi mọi người nhận được chân thật pháp thì phải bỏ phương tiện. Cũng như thấy được Phật Pháp thân thường trú Tỳ Lô Giá Na thì Phật Thích Ca vào Niết bàn.

Ngài bỏ giả thân sanh diệt để Pháp thân còn mãi, thâm nhập vào Pháp giới, vào trong tâm khảm của mọi người. Thật vậy, từ Phật Niết bàn đến nay hơn hai mươi lăm thế kỷ trôi qua, nhân cách thánh thiện và lời dạy cao quý của Đức Thế Tôn vẫn còn hướng dẫn sự sống của loài người ởkhắp mọi nơi, được từng thế hệ nối tiếp, phát huy, tạo nên sức sống Phật giáo với muôn màu muôn vẻ.

Dưới kiến giải Phật giáo Đại thừa không cố chấp vào mô hình cố định nào. Để phát huy tinh ba đạo Phật, cần vận dụng giáo lý, vận dụng những phương tiện khác nhau tùy theo hoàn cảnh, tùy theo sinh hoạt của từng nước, từng thời kỳ mà làm lợi ích. Để triển khai chân giáo nghĩa của Phật, các nhà truyền giáo Đại thừa đã khéo léo sử dụng phương tiện. Các ngài dung hợp hài hòa lời Phật dạy với dân tộc tính, với văn hóa của từng nước, tạo thành sức sống Phật giáo mãnh liệt chỉ đạo sinh hoạt xã hội.

Điển hình như hình thức Phật giáo Ấn Độ đi khất thực, mặc y Trời truyền sang Trung Hoa. Nếu giữ nguyên hình thức nhà Sư đầu trần chân đất, ăn mặc nghèo nàn như vậy, thì không thể nào tồn tại được trong một nước Trung Hoa trọng về lễ giáo và chủ thực tiễn. Các vị Tổ sư đã khéo léo cải biến hình thức khất thực cho phù hợp với tinh thầnthực tiễn bằng cách tạo ra những nông Thiền.Theo đó, các Sư vừa học vừa sản xuất, để giải quyết vấn đề sinh sống hàng ngày. Và cũng để phù hợp với văn hóa Trung Hoa mang nặng hình thức lễ nghi, họ đã chế ra những sắc phục cho nhà Sư mặc tương xứng với áo mão cân đai của triều đình.

Tuy nhiên, Phật giáo đến Việt Nam, gặp bối cảnh khác, nên suy tư và vận dụng giáo lý của Thiền sư Việt Nam cũng khác. Nếu không biết đổi khác, chỉ sống y khuôn với giáo lý Nguyên thủy, chắc chắn chúng ta sẽ không có những trang sử đẹp được mệnh danh là thời kỳ vàng son của Phật giáo Lý Trần. Các Thiền sư Việt Nam tiếp thu và vận dụng giáo lý vào cuộc sống thực tiễn, tạo thành sự thấy biết chính xác, mang đến những đóng góp tích cực đáng kể cho dân tộc, nêu cao một đời sống gương mẫu đạo đức, được mọi người kính ngưỡng. Các ngài xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Khi thì đóng vai Thái sư Khuông Việt hay người chèo đò Đỗ Thuận, lúc lại là thầy thuốc Tuệ Tĩnh hay thợ đúc đồng Nguyễn Minh Không. Thậm chí có lúc các ngài tự tại ở ngôi vị đế vương xông pha trước mũi tên lằn đạn để chống đỡ cho muôn dân thoát khỏi nạn dày xéo của ngoại bang.

Nhờ biết ứng dụng phương tiện một cách linh động toàn hảo, trải qua bao thăng trầm đổi thay của lịch sử, Phật giáo Việt Nam vẫn tồn tại sáng ngời với thời gian. Tồn tại trong những tác phẩm thi văn, hội họa, kiến trúc của các Thiền sư để lại cho đời, tồn tại trong sự nghiệp cao quý của những Thiền sư đã hòa thân cùng dân tộc, tồn tại trong tư cách cao thượng của những Thiền sư không màng lợi danh phú quý. Suốt cuộc đời các ngài chỉ hành động vì tâm nguyện đại từ đại bi, mang lợi lạc an vui cho dân tộc.

Nhận thức sâu sắc ý nghĩa tám mươi bốn ngàn phương tiện của Đức Thích Ca Như Lai mở ra cho chúng ta tiến đến chân trời giác ngộ giải thoát, đồng thời kế thừa được phương tiện tốt đẹp của các bậc tiền bối, Tăng Ni Phật tử cần sáng suốt vận dụng những phương tiện phù hợp với thời kỳ đổi mới của đất nước để dựng xây cuộc sống trí tuệ và đạo hạnh trên bước đường phục vụ đạo pháp và dân tộc.