cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển II - Lược Giải Kinh Pháp HoaHT THÍCH TRÍ QUẢNG


Sách / Trí Quảng Toàn Tập - Quyển II - Lược Giải Kinh Pháp Hoa / Kinh đại thừa vô lượng nghĩa

Lần nghe: 98.696

 

Pháp Hoa là con đường dẫn đến thế giới mầu nhiệm của chư Phật, là giai đoạn chót của Tam thừa. Ngài Kiều Trần Như, Ca Diếp, Xá Lợi Phất, v.v… trải qua hơn bốn mươi năm theo Phật mới được nghe kinh này. Năm ngàn Tỳ kheo tăng thượng mạn đành cam mất trân bảo, trở lại cuộc sống phàm phu.

Chúng ta không sanh cùng thời với Đức Phật, nhưng thọ trì được kinh Pháp Hoa, cảm nhận được công đức kinh. Điều này chứng tỏ chúng ta đã thành tựu một phần nào của bốn pháp mà Đức Phật nói trong phẩm Phổ Hiền là có căn lành, được chư Phật hộ niệm, sống trong chánh định và phát đại bi tâm. Căn lành đã sẵn, chư Phật luôn hộ niệm cho ta; nhưng vì sống trong đường hiểm sanh tử, thiếu niệm đại bi, xa rời chánh định, nên chúng ta gần Phật mà chẳng thấy Ngài, không vào được cửa Pháp Hoa. Vì những chúng sanh này, Phật hiện ra trên thế gian như một đóa sen, một đấng cứu thế.

Đứng ở vị trí Ngũ thừa, kinh Pháp Hoa được coi là pháp Viên đốn, là Tối thượng thừa Viên giáo. Nếu xét trong năm thời thuyết pháp của Đức Phật, thì Ngài nói kinh Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã và sau cùng mới giảng Pháp Hoa. Với vị trí quan trọng như vậy, phương thức tu hành theo kinh Pháp Hoa hết sức tinh mật. Vì là pháp dạy cho Bồ tát, hàng phàm phu tầm thường trong nhân gian khó đặt chân vào thế giới này, trừ khi hội đủ bốn điều kiện như đã nói trên.

Chính Đức Phật xác định trong phẩm Phương Tiện rằng khi Ngài Thành đạo dưới cội Bồ đề, muốn mang pháp tối thượng giảng dạy; nhưng quan sát thấy chúng sanh trí kém, đang bị nung nấu trong Nhà lửa tam giới. Nếu Ngài chỉ nói Nhất Phật thừa, họ không thể hiểu, sẽ chìm đắm trong sanh tử.

Pháp Phật chứng được thường tự vắng lặng, chỉ có chư Phật mới thấu tột và không thể diễn tả bằng ngôn ngữ phàm phu. Muốn chỉ cho chúng sanh tướng chân thật, Ngài phải dùng phương tiện. Trong bốn mươi năm nói pháp, Phật dùng vô số phương tiện giảng nói các pháp để giúp chúng sanh xa rời ngũ dục thế gian.

Đến hội Linh Sơn, hàng A la hán dứt sạch sự chấp trước và lên bờ giải thoát, Ngài mới dạy chân lý Pháp Hoa bằng cách khai Tam thừa nói Nhất thừa hay khai phương tiện, chỉ chân thật. Các pháp ứng cảm tùy cơ, bên ngoài là Thanh văn Nhị thừa hay Quyền thừa cho Bồ tát mới phát tâm, nhưng thực bên trong là ẩn mật Pháp Hoa kinh. Các pháp phương tiện nói trước, nếu không phải là nhân của Pháp Hoa thì khi nghe pháp chân thật Nhất thừa, các đệ tử của Ngài không thể hiểu và phát tâm tu Pháp Hoa được. Cũng như chư Phật quá khứ, ban đầu Ngài nói pháp Tứ đế đến Thập nhị Nhân duyên và Lục độ Ba la mật. Chúng sanh nương theo tu hành, đắc đạo, đắc quả, đắc pháp sai khác. Điều này chứng tỏ kinh Phật nói có vô lượng, vô biên, vô số nghĩa. Bước qua được cửa Vô Lượng Nghĩa, mới thâm nhập vào cảnh giới Pháp Hoa. Vì vậy, kinh Pháp Hoa được thuyết giảng trải qua nhiều năm tháng, hành giả vẫn cảm nhận và tu được. Nếu chỉ có một nghĩa, thì chỉ cần hành trì một lần là thông được với chư Phật, không phải nhọc công suốt đời tu tất cả pháp.

Hành đạo từ địa vị phàm phu đến quả Thánh, tâm hành giả triển chuyển theo từng niệm sanh diệt, nên giáo pháp của Phật cũng theo đó mà thay đổi. Từ khi sơ chuyển pháp luân đến hội Pháp Hoa, trải qua bốn mươi năm, Đức Phật rèn luyện và giáo dưỡng chúng Tam thừa thuần thục. Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát ví như ba cấp bậc của tiểu học, trung học và đại học. Trong thời gian bốn mươi năm đào tạo chúng Tam thừa, Đức Phật đưa ra những mô hình tu tập kiểu mẫu để chuẩn bị cho họ bước vào tạng bí yếu của Như Lai.

Ngài Trí Giả đại Sư ví Phật trao kinh Pháp Hoa giống như ông trưởng giả chỉ phú chúc gia tài cho người con có đủ tư cách và khả năng trông coi sự nghiệp. Cũng vậy, Đức Phật huấn luyện chúng hội suốt bốn mươi năm đoạn sạch trần cấu, hoàn toàn thanh tịnh, Ngài mới cho gia bảo Pháp Hoa. Được giáo dưỡng thuần thục rồi, chúng Tam thừa cùng bước vào thế giới Vô Lượng Nghĩa gọi là đồng quy giáo.

Như vậy, kinh Vô Lượng Nghĩa là cửa ngõ dẫn vào thế giới Pháp Hoa, dùng để tổng kiểm tra lần cuối tư cách của chúng Tam thừa trước khi họ thực sự trở thành hành giả Pháp Hoa kiểu mẫu.

Theo ngài Thiên Thai, thọ trì Pháp Hoa tam đại bộ gồm các kinh Vô Lượng Nghĩa, Pháp Hoa và Quán Phổ Hiền mới trọn vẹn được. Trước khi Đức Phật giới thiệu pháp hội vượt ngoài tầm thấy biết của con người, Ngài nói kinh Đại thừa Vô Lượng Nghĩa, hay nói những gì mà tâm thức con người không tiếp thu được, vì sự vật luôn chuyển đổi không dừng. Lúc trước, chúng hội tu hành theo mô hình cố định để diệt trừ tham sân phiền não. Đến nay, bước vào thế giới Vô Lượng Nghĩa, thâm nhập vào dòng thác trí tuệ Như Lai, không còn khuôn mẫu cố định nào có thể có tác dụng.

Tất cả các pháp trôi chảy miên viễn, tiến hóa linh hoạt vô cùng tận, chỉ hiện hữu những Bồ tát đa dạng, tùy loại hiện thân để cứu khổ chúngsanh. Linh hoạt tánh của Vô Lượng Nghĩa diễn nói vô cùng tận. Không đạt được trạng thái tâm chứng này mà tu hành, Huyền Giác Thiền sư quở trách như kẻ đếm tiền giùm người khác. Đếmsuốt đời mình vẫn là kẻ ăn xin, chẳng được lợi ích gì.

Trụ trong Vô Lượng Nghĩa, một câu một chữ trong kinh mang ý nghĩa chuyển đổi không lường, là nhịp cầu đưa hành giả đến thế giới mầu nhiệm của Pháp thân và Báo thân Phật. Thật vậy, ngài Trí Giả thâm nhập cửa Vô Lượng Nghĩa, bước vào thế giới Pháp Hoa, cảm nhận được chữ Diệu. Ngài giảng cho vua Tuyên Đế nghe suốt ba tháng vẫn chưa nói hết ý nghĩa của chữ này. Hoặc ngài Nhật Liên Thánh nhân tổng nhiếp được Vô Lượng Nghĩa trong một câu niệm Đề kinh Pháp Hoa. Ngài liền thông được tất cả pháp, tạo thành một lực dụng bất khả tư nghì, khiến sóng bủa ba đào cũng phải lặng yên và chuyển đổi cả tư tưởng xã hội thời bấy giờ.

Trước khi Đức Phật đưa chúng hội vào cảnh giới Pháp Hoa, Ngài nói kinh Đại thừa Vô Lượng Nghĩa. Bồ tát Đại Trang Nghiêm hỏi Phật: "Kinh này từ nơi nào tới, sẽ đi về đâu và trụ ở chỗ nào”. Ngài trả lời: "Kinh này từ nhà chư Phật mà tới”. Nhà chư Phật là tâm từ bi. Chúng Tam thừa đã ra khỏi sanh tử, vì tình thương tràn đầy đối với chúng sanh mà Phật trao kinh này cho các ngài. Tâm Từ của các ngài lan rộng đến đâu thì pháp cũng theo đó biến chuyển thành vô lượng.

"Kinh này sẽ đến chỗ chúng sanh phát tâm Bồ đề”. Chúng Tam thừa chính là những hành giả phát tâm Bồ đề. Các ngài đã vượt ra ngoài định luật chi phối của tam giới và đang tiếp tục đoạn đường cầu Vô thượng Chánh đẳng giác, cứu độ chúng sanh. Thành tựu tư cách như vậy, các ngài mới đủ khả năng thâm nhập trí tuệ Như Lai và trở thành người thay thế Phật diễn dịch Vô Lượng Nghĩa pháp.

Qua câu trả lời của Phật với Bồ tát Đại Trang Nghiêm, chúng ta nhận được ý nghĩa của danh từ "Giáo Bồ tát pháp” trong tên kinh không chỉ đơn giản có một nghĩa thông thường là pháp để dạy Bồ tát. Nó còn mang ý nghĩa quan trọng là pháp để hình thành các vị Bồ tát, một biểu tượng đẹp trong nhân gian, khiến mọi người đều quy ngưỡng, làm lợi ích cho muôn loài.

Ngoài ba đặc tính là Đại thừa, Vô Lượng Nghĩa và Giáo Bồ tát pháp, đặc tính thứ tư của pháp này là Phật sở hộ niệm. Tất cả chư Phật khi hành đạo Bồ tát là tu nhân, thành Phật là kết quả. Qua quá trình tu hành, các Đức Phật đã tìm ra chân lý, tìm được dòng thác trí tuệ Như Lai và đang sống trong kết quả đó. Nếu rời bỏ tri giác ấy, không còn là Phật.

Tư cách của một hành giả tham dự vào cảnh giới Vô Lượng Nghĩa được triển khai đầy đủ qua ba phẩm của kinh là Đức hạnh, Thuyết pháp và Công đức. Ba phẩm này tiêu biểu cho ba tầng kiểm tra tư cách hành giả. Tầng thứ nhất kiểm tra đức hạnh, tầng thứ hai kiểm tra tri thức và tầng thứ ba kiểm tra khả năng truyền bá kinh Pháp Hoa của hành giả. Vượt qua ba tầng kiểm tra này, hành giả là mẫu người lý tưởng tràn đầy tư cách thánh thiện để bước vào cảnh giới mầu nhiệm Pháp Hoa.

1 - Kiểm tra đức hạnh:

Mục tiêu Đức Phật ra đời và giảng kinh Pháp Hoa là khai tri kiến Phật để giúp cho chúng sanh thành Phật. Tuy nhiên, quan sát chúng sanh nghiệp cấu nặng nề, đầy đủ tham sân phiền não, không thể trong nhứt thời chuyển đổi chúng thành thuần thiện được. Ngài mới dùng phương tiện dìu dắt họ từng bước vào đạo.

Trải qua mười hai năm đầu, Phật nói pháp Tứ đế, lấy giới làm căn bản để tác động cho đại chúng xa rời nghiệp ác, phát triển tánh lành, trở thành người tốt trong xã hội. Mười hai năm này chỉ để xây dựng đại chúng trở thành người đức hạnh, đào tạo con người phàm phu trở thành một Tỳ kheo. Tỳ kheo là người phải có dáng giải thoát, trông xa thấy đẹp như loài cỏ hương, nhưng sống gần vị Tỳ kheo thấy càng đẹp hơn. Không phải chỉ có tướng hảo bên ngoài mà cử chỉ, lời nói, hành động đều thánh thiện, có tác dụng làm cho người vơi đi phiền não.

Chúng Thanh văn tu pháp Tứ đế, rèn luyện đức hạnh, trở thành người đạo đức thực sự, không lỗi lầm ở thế gian, không làm mất lòng người mới có thể giáo hóa chúng sanh. Phật uốn nắn Thanh văn trong quá trình mười hai năm tu hành, họ phải lóng nghe những sự chỉ trích xung quanh để y pháp sám hối, tự sửa mình cho trong sạch lần và tu cho tròn đủ ba mươi bảy Trợ đạo phẩm. Trong ba mươi bảy Trợ đạo phẩm lấy Bát Chánh đạo làm căn bản để định giá trị của hành giả Pháp Hoa.

Trước hết, hành giả tự xét cái nhìn sự vật của mình có chính xác, có đúng sự thật hay không. Thông thường cái thấy của phàm phu thường bị thiên lệch, hoặc tầm nhìn không quá đường chân trời; vì còn bị lệ thuộc vào yếu tố tình cảm từng người. Nếu thấy trên căn bản tham vọng, bè phái thì còn vô số sai trái khác nữa.

Trên bước đường tu tập, tùy theo trình độ tu chứng mà chúng hội đạt được những cái thấy khác nhau. Hàng A la hán an trụ Thiền định, thực chứng Huệ nhãn, biết được diễn biến của ba đời trước và ba đời sau. Hàng Bồ tát chứng đắc Pháp nhãn biết được sự tổng hợp của các pháp và đến giai đoạn cuối cùng đắc được Phật nhãn, thấy tất cả các pháp tồn tại biến hóa một cách chính xác như thấy vật trong lòng bàn tay.

Kế đến kiểm tra lời nói của hành giả có đúng như thật hay không. Tâm lý thế gian thường muốn cho câu chuyện hấp dẫn nên thường bịa đặt thêm thắt. Vì vậy, Đức Phật dạy chúng ta không được nói thêu dệt, nói lưỡi đôi chiều. Sở dĩ Phật được mọi người tin cậy tôn kính, vì lời nói của Ngài luôn luôn đúng thật. Ngài thường suy nghĩ những lời hay lẽ phải theo đúng chánh pháp. Chúng sanh thường để tâm trí chạy theo những ý nghĩ ác độc tà dại, buông lung, nên sức tập trung trở thành yếu kém. Trái lại, Phật luôn trụ trong tư duy chân chánh, nên mọi sự hiểu biết của Ngài không bao giờ sai lầm.

Từ sự suy nghĩ đúng đắn, hành giả siêng năng phát huy những việc làm tốt đẹp, mang lợi ích cho mọi người. Ngoài ra, đời sống và nghề nghiệp của hành giả Pháp Hoa phải lương thiện chân chánh và cuối cùng phải luôn sống trong tam tạng giáo điển. Sự hiểu biết của hành giả do trầm mình trong giáo pháp Như Lai, nên đạt được sự thấy biết chính xác. Thành tựu viên mãn pháp tu Bát Chánh đạo, hành giả mới tròn đầy giới đức, thì qua được cửa thứ nhất của Vô Lượng Nghĩa để thâm nhập thế giới Pháp Hoa.

Nếu thiếu phần đức hạnh căn bản này, hành giả tự bị đào thải từ vòng thứ nhất như năm ngàn Tỳ kheo tăng thượng mạn. Họ không bị ai đuổi mà tự xấu hổ, lễ Phật, rồi bỏ đạo tràng ra đi.

2 - Kiểm tra khả năng hiểu biết là nội dung của phẩm Thuyết Pháp:

Trước khi hành giả thuyết pháp, phải thấu rõ pháp. Nếu không biết mà giảng nói, pháp trở thành phi pháp. Ở giai đoạn trước, tu Duyên giác, Phật dạy hành giả quan sát các pháp. Nghĩa là quan sát sự vật biến chuyển và biết được sự thay đổi chính xác của nó, hành giả sẽ nói không sai lầm. Đức Như Lai không rời thế giới này, Ngài đắc đạo do quán thế gian pháp. Vì vậy quán sát pháp là quan sát thế gian. Lìa bỏ thế gian tu hành không thể thành đạo được.

Trang bị bằng sự hiểu biết đúng như thật, từ sơ chuyển pháp luân ở Lộc Uyển đến Kỳ Hoàn tịnh xá, qua Trúc Lâm và sau cùng ở hội Linh Sơn, Đức Phật thuyết pháp cho các đối tượng khác nhau là quốc vương, A la hán, Bích chi Phật, Bồ tát. Tùy theo cơ cảm mà chúng hội thọ nhận pháp tương ứng lợi lạc khác nhau. Tuy nhiên, nếu gặp đối tượng có đủ khả năng tiếp nhận, Phật mới giảng nói. Như đối với hàng Duyên giác là những người có trí, do phước đức trí tuệ tích lũy từ nhiều đời, nên sanh ra thì bẩm tánh đã thông minh. Ngài dạy họ pháp quán nhân duyên, quan sát vũ trụ từ hữu hình đến vô hình, thấy được cội nguồn của chân thật pháp và mối tương quan tương duyên tạo nên sự tồn tại giữa các pháp. Từ đó Duyên giác dùng lửa chánh định đốt sạch, nên không còn vật nào dính líu với họ và đạt được quả vị Bích chi Phật.

Phật cũng dạy họ quan sát về sự hình thành của thân người do tứ đại tạo nên. Đối với người chỉ sống với bản năng, cơm ăn áo mặc, tất nhiên họ tuyệt phần ở lãnh vực tri kiến này. Hàng Bích chi Phật quan sát tận cùng thân ngũ uẩn, thấy do nhân duyên giả hợp mà có, nhân duyên ly tán,thân sẽ tự mất. Dù sao, con người theo lời Phật dạy là một sinh vật tối linh so với các loài khác; vì chỉ có con người mới có khả năng tu thành Phật, nhờ tám giác quan mà các loài khác không hội đủ.

Khi tu pháp quán mười hai Nhân duyên để trở thành Bích chi Phật, Phật dạy hành giả quan sát ngũ ấm có sáu căn tiếp xúc với sáu trần sanh ra sáu thức, gọi là mười tám giới. Mười tám giới này tác động trong sáu đường chúng sanh tạo thành một trăm lẻ tám phiền não. Quan sát căn bản phiền não qua pháp Nhân duyên, nhận thấy từ một niệm tâm của hành giả phóng ra, xoay vần trong sự tương quan tương duyên biến hóa và đưa đến tám muôn bốn ngàn phiền não trần lao.

Ở giai đoạn kiểm tra đợt hai, hành giả phải có khả năng hiểu biết tường tận, biết được diễn biến vật lý và tâm lý đúng như thật rồi mới thuyết pháp. Vì vậy bài pháp của hành giả thỏa mãn được sở cầu sở nguyện của chúng sanh, mới giáo hóa họ được.

Trụ ở tầng thứ nhì của Vô Lượng Nghĩa, hành giả đang đi trên con đường Trung thừa. Tư cách đạo đức ở tầng thứ nhất của Vô Lượng Nghĩa phải gắn liền với tri thức chính xác như thật ở giai đoạn hai, mới thực sự tạo thành hình ảnh một hành giả Pháp Hoa thay Phật tuyên pháp mầu trên thế gian này.

3 - Tầng thứ ba của Vô Lượng Nghĩa kiểm tra về khả năng giáo hóa là Bồ tát hạnh hay mười điều công đức của kinh:

Khi đầy đủ đức hạnh vẹn toàn và trang bị một tri kiến chính xác đúng như thật, hành giả dấn thân vào đời chứng nghiệm những bài pháp học được ngay trong thực tế cuộc sống.

Mỗi người tùy theo tư thế và vị trí hành đạo mà sử dụng được từng phần công đức khác nhau. Nếu hành giả may mắn vào được thế giới Pháp Hoa, nhận được một trong những công đức bất khả tư nghì. Nhưng một niệm tâm khởi lên ngăn cách với Phật, hành giả liền rơi trở lại thực tế của phàm phu. Bấy giờ tưởng còn mầu nhiệm, nhưng sự thực không có kết quả nữa. Cũng như muốn sử dụng máy phải có người biết điều khiển. Con người của Pháp Hoa mới thọ trì được kinh Pháp Hoa. Con người của Pháp Hoa là Bồ tát ởdạng thức thứ hai, không phải là con người phàm phu này. Vì vậy tu các pháp thuộc nhân thiên, Phật ví như ta làm việc "Cái giá một ngày” hết sức cực khổ mà lợi ích không được bao nhiêu.

Tất cả mọi việc hành giả làm dù hữu lậu hay vô lậu, nếu biết nương theo Bồ tát hạnh đều được chuyển sang thế giới Thật Báo. Nhờ vậy tuy thân còn ở thế giới này mà đã liên hệ với thế giới kia. Khi hành giả làm việc bằng tâm vô cầu, mọi công đức mầu nhiệm sẽ tuần tự hiện ra. Trái lại, khi đặt kế hoạch liền kẹt vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức; nghĩa là bị con người ngũ uẩn ngăn che, không thể nhận được sự mầu nhiệm nữa.

Mười công đức của kinh Pháp Hoa dưới đây là kết quả của Bồ tát ở Tam thừa, chỉ bằng Bồ tát Sơ phát tâm ở Viên thừa.

1 - Công đức thứ nhất: Chuyển phiền não thành Bồ đề.

Khi hành giả thọ trì kinh, tâm duyên được với kinh và Phật, công đức lành sanh ra. Những sự ngăn che của phàm phu tự tan biến, sáu căn trở thành thanh tịnh. Tất cả phiền não trước kia tác hại hành giả bao nhiêu, nay đều chuyển thành phương tiện tốt để hành đạo.

Trước đó, khi nói pháp Tứ đế ở thành Ba la nại, Phật dạy phải đoạn trừ phiền não; vì đối với tâm lượng chán nản mệt mỏi của chúng hội bấy giờ, phiền não là chướng ngại. Ngược lại, nay tuy Bồ tát bị cách ấm, mang thân phàm phu mà cảm được kinh hay niệm danh hiệu Phật, tất cả nghiệp xấu trở thành tánh Bồ đề, ác hóa thiện. Ví như hoa sen hút bùn nhơ chuyển ra hương sen thơm ngát.

Nương công đức kinh và thần lực của chư Phật, hành giả chuyển đổi toàn b