cool hit counter

Kiến Thức Phật Pháp

Tu Vô Lượng Nghĩa

HT. THÍCH TRÍ QUẢNG






Vô lượng nghĩa là một trong 16 tên của kinh Pháp hoa. Như vậy, Vô lượng nghĩa cũng là kinh Pháp hoa. Người tu Vô lượng nghĩa cũng là tu Pháp hoa, có thể hiểu đó là hai mặt của một bộ kinh.

Đứng về Vô lượng nghĩa, tất cả pháp Phật nói trong 49 năm đều nằm trong tạng Vô lượng nghĩa. Nhưng người chấp pháp môn này, người chấp pháp môn kia, nên phỉ báng lẫn nhau; đó là sai lầm lớn của Phật tử không tới với đạo được.

Chúng ta học Vô lượng nghĩa, nên hiểu rằng 84.000 pháp môn tu của Phật để ứng vào phiền não của chúng sanh, ứng vào căn tánh hành nghiệp của chúng sanh. Ai có căn tánh nào thì cần pháp tương ưng với căn tánh đó. Vì tất cả pháp Phật nhằm dẹp trừ phiền não, nhưng người chấp pháp lại tự khởi phiền não. Gần nhất là những người chọn pháp môn đặc thù để tu, như người tu pháp môn Tịnh độ y cứ theo lời dạy của Thiền sư Vĩnh Minh bảo rằng mười người tu Thiền thì chín người đọa, một vạn người tu Tịnh độ đều được vãng sanh Cực lạc. Và như vậy, chấp vào pháp này mà chê pháp tu Thiền là phạm tội phá pháp.

Thiền là pháp căn bản của đạo Phật. Đức Phật nhờ 49 ngày Thiền định mà thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác và các đệ tử Phật cũng nhờ vào Thiền mà đắc quả vị Tu-đà-hoàn cho đến A-la-hán.

Người tu Tịnh độ muốn về Cực lạc mà tạo nhân sai lầm lớn, chê bai pháp Phật, không về Cực lạc được.

Tu Vô lượng nghĩa thì thấy pháp Thiền, hay Tịnh độ cũng đều là pháp của Phật, nhưng tại sao lại có Thiền và có Tịnh độ. Không có trí tuệ mới thấy Tịnh độ và Thiền riêng biệt. Có trí tuệ thấy Tịnh độ và Thiền là một, nhưng tên gọi khác nhau, cũng như Vô lượng nghĩa là Pháp hoa và Pháp hoa cũng là Vô lượng nghĩa, nhưng tại sao gọi Pháp hoa, tại sao gọi Vô lượng nghĩa. Tại sao gọi Thiền, tại sao gọi Tịnh độ.

Người tu Thiền cuối cùng cũng vào Tịnh độ chứ. Thiền là cốt lõi của đạo Phật, nhưng người có khả năng hành Thiền để đắc đạo thì hiếm, nên ngài Vĩnh Minh mới nói mười người tu, chín người sai. Chỉ có hàng thượng căn, thượng trí ngồi Thiền, tâm liền đứng yên, thanh tịnh và vượt qua các tầng lưới ma để đến với Phật và thành Phật.

Còn chúng ta nghiệp chướng nặng, mà tu Thiền thì sao. Vì khi chúng ta ngồi yên, nghiệp của chúng ta sẽ hiện ra. Trong khi cốt lõi của Phật là Phật, nên Ngài ngồi yên, bên ngoài yên thì trong lòng Ngài sáng lên. Thầy đã trải nghiệm điều này, thấy rõ rằng thầy muốn làm việc gì cần có sự yên tĩnh, vì ngồi yên tĩnh, trí mới sáng, mới biết đúng vấn đề.

Hoàn cảnh bên ngoài yên tĩnh, tâm chúng ta yên tĩnh, trí bừng sáng, đó là cốt lõi Thiền. Vì vậy, các Thiền sư thường tìm thâm sơn cùng cốc để tu, vì hoàn cảnh ở đó thực sự yên tĩnh, tâm mới bừng sáng được, mới thấy đạo là thấy thực tế cuộc sống. Chúng ta chưa thấy đúng thực tế, nên phạm sai lầm. Còn thấy đúng thực tế, làm sao có quả báo.

Thiền là cốt lõi của đạo Phật. Tổ Thiên Thai chuyên trì kinh Pháp hoa, nhưng Ngài gia công Thiền định, quên ăn, quên ngủ mà không mệt mỏi, đó là vì căn lành của Ngài quá lớn, mới đắc đạo. Thật vậy, khi Ngài xả định, trở lại đời thường, các học tăng ở Nam Kỳ quyết chí tu liền tìm Tổ Thiên Thai để học đạo. Lý này hàng phàm phu không thể biết, không thể nhận được.

Người không biết mới chê Tổ là giả tu, vì họ thấy nhiều người theo Tổ, nên sanh tâm ganh tỵ, gièm pha. Ông Cai Tổng ở Bà Rịa, Vũng Tàu đến viếng Tổ, hỏi rằng ông thấy Tổ tu hành rất nghiêm túc, làm được việc mà người khác không làm được, biết những điều mà người khác không biết, nhưng tại sao còn có người khinh chê Ngài.

Tổ hỏi ông nghe ai chê. Ông nói thầy A, thầy B… chê, nói người ta lo tụng kinh, cúng bái. Còn Tổ Thiên Thai vô hang đá ngồi hoài, không ăn uống, không làm gì cả.

Tổ nói ông A, ông B… chê, đúng không. Xưa kia, Phật tu khổ hạnh đến mức da bụng dính xương sống khiến cho những nhà khổ hạnh khác phải kinh sợ, thán phục. Phật nhịn ăn đến một trăm ngày mà Ngài vẫn sống, nhưng cũng có người chê Phật Thích Ca khổ hạnh như vậy là dại, sao không ăn cho sướng.

Người chưa đắc đạo, lại chấp pháp nào đó, thấy ai tu pháp khác thì chê là sai lầm lớn. Tu hành, mình chọn pháp thích hợp để thực tập có kết quả. Riêng thầy không biết cúng kiếng, không biết coi bói, nhưng thầy không chê các thầy làm việc này, vì đó là phương tiện. Thầy chọn thuyết giảng giáo pháp của Phật, đó là pháp thích hợp với thầy. Thầy khác chọn nghi lễ thích hợp với họ và cũng có kết quả tốt.

Vì vậy, trong kinh Vô lượng nghĩa, Phật nói làm gì cũng được, miễn là có lợi ích cho nhiều người trong hiện tại và trong tương lai. Quý vị tu, nên nhớ ý nghĩa củaVô lượng nghĩa là như thế.

Pháp mà mình thực tập không đạt kết quả tốt, mà mình lại chỉ dạy người là sai, tức sai với hoàn cảnh của người đó. Nói cách khác, thuốc hay, nhưng phải chữa đúng bệnh, dùng không đúng bệnh, bệnh càng nặng thêm cho đến tử vong.

Pháp nào hạp với mình thì mình thực tập hết lòng. Nếu có trí tuệ, thầy thấy người nào làm không được, thầy cũng không khuyên họ làm. Thí dụ thầy nói kinh Pháp hoa là thuốc bổ, nhưng người bị bệnh cảm mà cho uống thuốc bổ là chết. Người bị cảm, thầy không bảo tụng kinh Pháp hoa, mà bảo họ ra vườn chùa, hái lá cây để xông, sẽ hết bệnh liền.

Cũng vậy, người không có khả năng Thiền định, ta hướng dẫn họ Thiền là họ lạc vào cảnh giới ma. Thầy nói khi người ta chết thì làm ma và ma sanh lại làm người. Thế giới của ta và thế giới của ma gần nhau. Vì vậy, nếu vào Thiền định, chắc chắn họ vào thế giới ma.

Ngài Trí Giả giảng Ma Ha Chỉ Quán nói rằng cảnh giới ma có nhiều cửa, cảnh giới Phật chỉ có một cửa. Muốn vào thế giới Phật, quý vị phải đi vào bằng vô tâm, hay vào cửa Không. Vô tâm là lòng mình sạch, không có ý tưởng, lòng mình trống không mới vào thế giới Phật được. Nhưng nghiệp mình còn, thì vào Thiền định, quý vị sẽ nhớ lại nghiệp cũ là cảnh giới ma bắt đầu xuất hiện.

Nghiệp cũ là tập quán nhiều đời, phá trừ nó không dễ, vì nó có nhiều tầng lớp dày đặc. Ngay như nghiệp cũ trong một kiếp này thôi, khi vào Thiền định thì cái gì gần mình nhất, cái đó sẽ hiện ra. Thí dụ thầy giảng kinh buổi sáng, tối thầy ngủ thấy giảng đường này hiện ra trước, vì việc đó gần thầy nhất. Và xa hơn, tất cả cảnh giới trong 40 năm thầy thuyết pháp từ Cà Mau đến Móng Cái, từng lớp người nghe pháp sẽ hiện ra, còn Phật chưa hiện ra.

Đối với người tu, những việc như vậy hiện ra cũng là căn lành. Vì thầy xuất gia từ thuở nhỏ, vào chùa học kinh và lớn lên, thuyết pháp, cho nên những việc này hiện ra. Đó là cảnh giới lành do huân tu nhiều đời, khi mình nhắm mắt lại thì những điều này xuất hiện, kể cả nhiều đời mình tu ở chùa nào, cũng hiện ra, như vậy là chứng Túc mạng minh. Và biết Túc mạng để người đến, mình biết được họ tốt hay xấu, thiện hay ác, nên gặp hay không. Cái biết này rất quan trọng.

Người tu Thiền, hay người tu đắc đạo thường tìm người có duyên để độ, không phải ai cũng độ. Ta chưa đạt được khả năng này, thì tìm pháp khác để tu, không dám chê. Pháp Thiền là pháp cao tột trong đạo Phật, không dễ tu. Vì vậy, Ngài Vĩnh Minh đắc đạo, mới nói rằng mười người tu Thiền, chín người sai. Ngài mới đưa pháp phương tiện khác cho dễ tu hơn. Người ngồi không, thường nghĩ bậy, sẽ bị đọa, thì Ngài bảo phải niệm Phật. Ngài nói pháp môn Tịnh độ thù thắng, vì người tu pháp này không bị lạc vào cảnh giới ma. Miệng niệm Phật, tâm nghĩ Phật và thân lạy Phật, tuy pháp môn đơn giản, nhưng đạt được hiệu quả cao, nên là Vô lượng nghĩa vậy.

Phật dạy kinh Pháp hoa, nhưng người không thực tập được Pháp hoa, hay Thiền quán để chứng quả, nên tìm pháp khác. Pháp Tịnh độ dễ làm hơn, tay lần chuỗi, miệng niệm Phật để quên đi những bức ngặt của cuộc đời này. Trong khi Thiền quán đòi hỏi tâm trong sạch mới thực tập được pháp này, vì muốn vào cửa Phật, phải vào cửa Không.

Nói đúng hơn, tu pháp môn nào cũng vậy, nếu đụng một chút là buồn giận thì tu gì. Hòa thượng Thiện Siêu dạy một câu có ý nghĩa, một chút buồn, một chút giận thì suốt đời lận đận.

Thầy quan sát kỹ, thấy người dễ buồn giận, cuộc đời họ lận đận thiệt. Những người này đi chùa nào cũng quậy phá, vì buồn giận, nên họ ưa nói bậy, làm cho người khác không tu được.

Tâm mình không buồn giận, nhiếp tâm niệm Phật là vui với đạo. Tổ Thiên Thai nói: "Ngày tháng ta ung dung vui với đạo. Công danh, tình ái, mặc người ham”. Người ham thì phải khổ, phải lận đận. Có ung dung tự tại vui với đạo mới khả dĩ vào đạo. Thật vậy, cuộc đời của Tổ Thiên Thai thể hiện rõ điều này, Ngài tu trong hang, nhưng vẫn sống thanh thản.

Ta nghiệp nặng, phải dùng pháp niệm Phật, lạy Phật cho nghiệp tiêu, đó là kinh nghiệm tu của thầy. Nhưng lạy Phật, niệm Phật mà ta thấy không đủ, Phật dạy pháp khác là lạy sám hối. Thầy có thời gian thực tập pháp sám hối mỗi ngày, dành thì giờ lạy Phật. Lúc mới, chỉ xướng danh lạy Phật, nhưng về sau, nhìn hình ảnh Phật, nghĩ đến Phật và lạy Phật thì đã khá hơn.

Bước đầu, đọc tên Phật thôi và từ đó hình dung ra Phật để lạy Phật là bắt đầu lạy Báo thân Phật, tức phước đức, trí tuệ của Phật. Thí dụ lạy Phật A Di Đà, quý vị tìm hình ảnh Phật có hảo tướng.

Tâm phân biệt của mình, nên thấy tượng này đẹp, còn người khác lại thấy không đẹp. Đó là do tâm con người có phân biệt đẹp và xấu. Điều này Phật dạy là tùy tâm hiện, tướng tùy tâm sanh. Chỗ này trở về cái lý của Vô lượng nghĩa, thấy cái này đẹp, cái kia không đẹp, thì đó là phương tiện, nhưng ở chân lý là một, ai cũng đẹp. Người tu pháp phương tiện, nhưng ngộ rồi, chứng rồi là chứng pháp phương tiện.

Thầy siêng năng lạy Phật mỗi ngày, một thời gian sau, thấy mây, núi, đá cũng giống Phật và Thánh chúng. Ban đầu mình thấy là đá, là cây, nhưng khi tâm chúng ta nghĩ Phật, thì có điều lạ, thấy cây tùng là Phật, cục đá là Phật ngồi. Thầy lên chùa Bửu Thiền, núi Thị Vải, thấy tảng đá giống tượng Phật nhập Niết-bàn mà thầy đã thấy ở Kusinaga, Ấn Độ. Đó là Phật tâm của mình hiện ra.

Tổ Thiên Thai dạy chúng ta lạy Phật, cho đến thấy Phật là thấy hảo tướng. Có người nghe thầy nói trên núi Thị Vải có tượng Phật Niết-bàn, nhưng họ nói nhìn hoài mà không thấy. Thầy nói Vô lượng nghĩa là vậy, thầy thấy Phật Niết bàn, nhưng ông này thấy cục đá.

Tu Pháp hoa có tâm khát ngưỡng, chúng ta mới thấy Phật, còn người khác thì không thấy được. Hoặc có người chiêm bái xá-lợi Phật thấy xá-lợi có năm màu, ba màu, một màu… Thầy nói điều này là Vô lượng nghĩa, tâm quý vị có năm, ba màu nên thấy như vậy, đó là do tâm hiện.

Người có khát ngưỡng về Phật, có căn lành sâu xa với Phật, thấy xá-lợi là hài cốt Phật để lại, thì quý vị nghĩ đến Phật còn sanh tiền là nghĩ đến việc làm của Phật, cả cuộc đời tu hành, giáo hóa của Phật hiện ra ở xá-lợi. Riêng thầy, quán sát xá-lợi Phật như vậy, ban đầu thấy xá-lợi nhỏ như hạt gạo, nhưng nhìn bằng tâm thì thấy xá-lợi lớn lên, thể hiện cả cuộc đời giáo hóa độ sanh của Đức Phật, đó là thấy Báo thân viên mãn của Phật.

Thấy Báo thân Phật hiện ra là thấy một đời Phật hiện ra và xa hơn nữa, ta thấy Pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật hiện ra, như vậy, tầm nhìn của chúng ta đã khác rồi. Và cái thấy này bằng tâm thanh tịnh của chúng ta, nên có tiếng động nổi lên là không thấy nữa, khiến thầy có cảm giác thế giới này như mộng.

Pháp thân Tỳ Lô Giá Na thành tựu từ Báo thân viên mãn, tức phước đức, đạo hạnh, trí tuệ của Phật vô cùng tận, nên kết thành quả tốt đẹp vô hạn là đúng rồi. Nói cách khác, thấy nhân hạnh của Phật một cách xác thực rõ ràng, trong khi phàm phu thấy theo tham vọng, phải sai lầm, bị quả báo cũng đúng thôi.

Thấy được Báo thân viên mãn cho đến Pháp thân Tỳ Lô Giá Na là thấy theo kinh Hoa nghiêm. Ban đầu, chúng ta tu Vô lượng nghĩa của Pháp hoa và thực tập Bồ-tát đạo theo Pháp hoa, làm cho thân trong sạch như hoa sen, không ai chê trách được. Và nâng lên, tâm cũng trong sạch, thân tâm đều thanh tịnh tạo thành Báo thân. Tới đây mới thấy được Báo thân Phật.

Nhưng chúng ta tu sai lầm, muốn ai cũng thương mình, nhưng mình lại không bằng lòng người chỉ trích mình, tu như vậy là sai, về sau bị đọa. Vì vậy, khởi tu phải có ma chướng, thử thách mới biết con người thực của mình, con người thực của chúng ta mới hiện ra thì chúng ta mới chuyển hóa cho sạch nghiệp. Thậm chí người ta chê bai, hành hạ chúng ta, nhưng chúng ta vẫn tu, thì họ phải kính trọng ta. Vì Phật nói người thực tu, gặp việc đáng buồn giận, không buồn giận, đáng ham muốn nhưng mình không ham muốn, mới biết mình đã trong sạch rồi. Làm được như vậy mới được một phần của kinh Pháp hoa thôi, là có xá-lợi, nhưng quan trọng phải có hào quang.

Người tốt, không làm tội lỗi, chỉ được một phần thôi. Phải làm lợi ích cho người, mới là tốt thiệt. Có thể nói hai chân ví như Nhị thừa và Bồ-tát, chân phải trong sạch và chân trái làm lợi ích cho đời.

Phải trong sạch thân tâm và làm lợi ích cho nhiều người mới vào đạo, mới lên đỉnh cao của Bồ-tát theo Hoa nghiêm. Tròn đủ hạnh Bồ-tát mới chứng được Như Lai thân, tức sử dụng được diệu dụng của Pháp thân, trở thành vô tác diệu lực. Nghĩa là bấy giờ, Như Lai thân như như bất động, Ngài không cần đi, không cần làm bất cứ việc gì, nhưng sự hiện hữu của Phật đã tác động cho người thấy Ngài, nghe Ngài đều phát tâm Bồ-đề, tâm họ được thanh tịnh; như vậy là Pháp thân đã hiện ra, Trí thân hiện ra.

Để hiểu được sự diệu dụng của Pháp thân, chúng ta trở lại thời gian mà Phật chưa thành đạo, Ngài còn là Thái tử Sĩ Đạt Ta tu khổ hạnh chung với năm anh em Kiều Trần Như. Khi nhận thấy pháp tu này không đúng, Ngài rời bỏ họ và họ đã chê trách Ngài là người bỏ cuộc, không khổ hạnh nổi.

Nhưng sau khi Phật thành đạo, Phật thương xót họ, Ngài khởi tâm đại bi, tội nghiệp họ tu cực khổ, sai lầm, không được kết quả gì, nên Ngài đến độ họ. Lòng của Phật nghĩ đến họ và họ cũng nghĩ đến Phật thể hiện tinh thần vô tác diệu lực, không cần làm, nhưng đạt được kết quả thật cao. Tâm Phật nghĩ đến năm anh em Kiều Trần Như khiến họ tu thanh tịnh, đắc được Thánh quả A-la-hán. Sau đó, Phật đến độ ba anh em Ca Diếp tu và một ngàn ngoại đạo đệ tử của họ cũng theo Phật tu. Có thể thấy rõ tâm Phật hướng đến người nào, thì họ đều phát tâm tu theo.

Bằng tâm người thường, thấy lạ, lúc trước, năm anh em Kiều Trần Như chê Phật, không nhìn Phật; nhưng nay theo Phật và chết sống với Phật. Đó chính là Vô lượng nghĩa.

Hay chỉ trong một đêm mà Phật độ được một ngàn ngoại đạo trở thành Sa-môn. Nhưng sau đó, Phật không độ được như vậy. Cho đến khi Phật Niết-bàn, sao Phật nằm đó một mình. Thấy như vậy là chúng ta không thấy đạo.

Phật đã chứng Như Lai thân và sử dụng Như Lai thân để giáo hóa chúng sanh viên mãn. Ngài Niết-bàn, không đi nữa. Mắt thường thấy Phật lúc đó có một mình A Nan bên cạnh, nhưng Phật lại bảo A Nan đi vào thành, nửa đêm Ngài sẽ Niết-bàn. Như vậy, cả một đời thuyết pháp giáo hóa mà Ngài chết có một mình, thiệt là tội nghiệp.

Nhưng nếu chúng ta nhìn theo Pháp nhãn của Bồ-tát, hay bằng mắt của Nhị thừa đắc đạo, không phải Phật nằm một mình. Sư Thông Bác lúc chưa xuất gia, đã ngộ ra lý này và làm bài thơ đưa thầy đọc. Bài thơ có độ cảm về Phật rất cao, thầy xin chia sẻ với quý vị.

Tiếng Ca Lăng tưng bừng trong nắng

Hương Sa-la lẳng lặng qua rừng

Người nằm tỉnh giấc phù vân

Cởi muôn ngọn lửa dương trần ra đi

Vàng cốt cách ngọc về xá-lợi

Khắp trời người quỳ dưới đài sen

Chim trời cá nước vẫn quen

Giữa lòng pháp thị tình xuyên đôi bờ

Giọt lệ trắng thành thơ bạch ngọc

Giọt nắng vàng xuống đất hồi sinh

Trùng trùng Phật bảo lung linh

Bay về thắp cõi vô minh ới người

Nắng Ấn Độ qua trời Bách Việt

Vượt qua lòng nhỏ hẹp chia ly

Đất về đất cũng đang đi

Người trên trái đất nói gì với nhau

Phật tức tâm tâm vào ngộ Phật

Cửa không cài cửa pháp vô môn

Người về quảy trái đất luôn

Bước vào tịnh thổ bình an đời đời.