cool hit counter

Kiến Thức Phật Pháp

Quan niệm về ĐỨC PHẬT

HT. THÍCH TRÍ QUẢNG

 

(Bài giảng ngày 10-12-2017 tại Học viện Phật giáo VN - TP.HCM)

                                                                                               


Đức Phật là con người như bao nhiêu người khác, Ngài xuất gia làm Sa-môn và thành đạo, Ngài đi thuyết pháp giáo hóa cho đến năm 80 tuổi, Ngài nhập Niết-bàn. Đó là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni theo lịch sử ghi nhận như vậy. Nhưng chúng ta vượt trên lịch sử một bước để nhìn về Đức Phật gọi là quan niệm về Đức Phật, thì có nhiều khuynh hướng nghĩ về Đức Phật hoàn toàn khác nhau.

1. Hàng ngoại đạo nghĩ về Đức Phật như thế nào.

2. Phật giáo Nguyên thủy nghĩ về Đức Phật như thế nào.

3. Phật giáo Đại thừa nghĩ về Đức Phật như thế nào.

4. Phật giáo Kim Cang thừa nghĩ về Đức Phật như thế nào.

Trước hết, chúng ta tìm hiểu xem ngoại đạo nghĩ thế nào về Đức Phật và Đức Phật đối với ngoại đạo như thế nào, để chúng ta rút kinh nghiệm hoằng pháp.

Đương nhiên hàng ngoại đạo nhìn về Đức Phật là người đối lập của họ. Vì vậy, trên bước đường truyền giáo của Đức Phật, Ngài luôn gặp chống phá. Ngày nay, chúng ta làm công tác hoằng pháp cũng phải thấy rõ điều này.

Có thể nói Đức Phật đối lập với ngoại đạo, vì họ chủ yếu xây dựng thế giới thần linh là đa thần giáo và nhứt thần giáo. Đây là quan niệm của loài người, hay văn minh của nhân loại ở thời cổ đại. Đối trước những hiện tượng trong trời đất mà con người không giải thích được, nên họ đã thần thánh hóa các hiện tượng thiên nhiên.

Thật vậy, loài người ở thời đó cho rằng xung quanh họ được bao bọc bởi các vị thần và chư thần cai quản con người, nắm quyền sinh sát muôn loài. Rõ ràng sự hiện hữu của các vị thần do con người suy nghĩ, đặt ra, chẳng hạn họ tôn sùng Phạm Thiên là đấng tạo hóa sinh ra con người và muôn loài, vận mạng của con người ở trong tay vị này; ngoài ra còn có vô số thần như thần đất, thần núi, thần sông, thần sấm, thần mưa, thần gió… Con người hoàn toàn bất lực trước sức mạnh của các thần linh vô hình, nên họ sùng bái, thờ phụng thần linh. Đó chính là nguyên nhân các tôn giáo ra đời, mà chúng ta thường nói rằng có 16, hay 94 ngoại đạo hiện hữu thời Đức Phật tại thế.

Và khi Đức Phật thuyết pháp, chúng ta cũng thấy có sự đối lập với ngoại đạo, vì Phật nhận thấy quan niệm sùng bái thần linh không đúng, mà ngày nay chúng ta gọi là mê tín, dị đoan. Vì vậy, Phật thuyết pháp vẫn phê phán sai trái của ngoại đạo và Ngài chỉnh sửa để đưa vào thực tế cuộc sống được đúng đắn và thích hợp. Vì lập trường của Phật là nhắm đến lợi ích của chư Thiên và loài người, mà con người là chính.

Những điều mê tín không giúp cho con người thăng hoa, nên Phật đã chỉnh sửa, tất nhiên Phật phải đạt trí tuệ cao nhất nghĩa là những gì loài người biết, Phật biết và những gì loài người chưa biết, Phật cũng biết. Việc hoằng pháp lợi sanh của Đức Phật thể hiện rõ nét đặc thù này, những gì ngoại đạo biết là kinh điển của họ, Phật cũng biết và hơn thế nữa, Phật cũng biết bế tắc của họ và Ngài khai tri kiến là chỉnh sửa những lỗi lầm của họ. Vì sao ba anhem Ca Diếp cùng 1.000 đồ chúng, cũng như Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên theo Phật. Vì họ bị bế tắc trong suy nghĩ, trong pháp hành, nên tu không đạt kết quả.

Trí tuệ của Phật khai thông bế tắc cho họ thì họ nhìn sáng hơn, tu an lạc hơn. Đó là điểm quan trọng nhất của việc hoằng pháp lợi sanh. Ngày nay, học Phật điều này, muốn tháo gỡ bế tắc và giải tỏa khổ đau cho người, tất yếu chúng ta phải có tầm nhìn theo Phật.

Phật thấy ngoại đạo ra sao. Đối với người lợi dụng tôn giáo, lợi dụng người mê tín, chúng ta xếp qua một bên. Nhưng đối với người tu thiệt, muốn tìm chân lý, nhưng họ càng học, càng tu thì càng bị ràng buộc. Kinh Dược Sư nói ý này rằng người bị tà giáo ràng buộc, Phật Dược Sư khai thị cho họ khỏi đường mê, chứng quả Vô thượng Bồ-đề.

Họ muốn tu nhưng bị tà giáo bày đủ kiểu khiến họ tốn công sức, tiền bạc, nhưng không được gì. Đến khi thực tập pháp Phật có kết quả, họ mới bỏ ngoại đạo, theo Phật. Phật cứu những người sa vào tà giáo thì ngoại đạo bất mãn, thù oán, vì họ bị mất quyền lợi, nên họ chống phá, sát hại Phật. Nhưng Phật có trí tuệ biết ai là người thù oán, muốn sát hại, muốn gây khó khăn và Phật cũng biết cách tháo gỡ, vô hiệu hóa sự chống phá của họ.

Các anh em hoằng pháp sau này, nếu chưa tìm được cách vô hiệu hóa sự chống phá thì nên tránh, gọi là thệ nguyện an lạc theo kinh Pháp hoa. Riêng cuộc đời giáo hóa của tôi cũng đã gặp trường hợp tương tợ. Có người bị rớt vô tà giáo, đến thưa với tôi rằng con lỡ tin người bạn. Vì ngoại đạo muốn lợi dụng người giàu có, mới cho người đến dụ dỗ. Người bị dụ không phải họ tin theo, nhưng đi theo người bạn đến chỗ nào đó có thờ tượng Di Lặc. Vì là Phật tử thấy tượng Phật thì tin và lạy Phật. Ông thầy đọc bài kinh nhưng bà này nói không biết là gì. Khi kết thúc buổi lễ, người bạn nói ông thầy quy y cho bà và đã làm sớ tâu lên thiên đình rồi, bà đã trở thành tín đồ theo họ, nếu không theo sẽ bị ngũ lôi đánh năm lần làm cho tan xác tan hồn. Tôi bảo bà đưa phái điệp để tôi hóa giải. Tôi đốt tất cả trước tượng Quan Âm rồi bảo bà về lo tu, ngũ lôi không đánh đâu. Mình cứu người, giải quyết việc này thì bị họ thù. Anh em nên cẩn thận, chưa đủ đạo lực thì nên tránh.

Trở lại việc trước tiên Phật khai ngộ cho năm anh em Kiều Trần Như, vì năm ông này tu bị bế tắc, tu khổ hạnh không có lối ra và tuổi càng ngày càng lớn mà pháp tu không có kết quả thì phải khổ chứ. Phật khai ngộ cho các ông, đầu tiên Phật dạy pháp Tứ Thánh đế, hay thực tập pháp Tứ niệm xứ được giải thoát liền. Các ông nghe lời Phật dạy, chỉ cần quán thân bất tịnh, quán thọ thì khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã là cảm nhận được cuộc sống nhẹ nhàng, an lạc. Về sau, Phật mở rộng thêm 37 Trợ đạo phẩm, nhưng căn bản giải thoát của năm anh em Kiều Trần Như là thành tựu quán pháp vô ngã. Cốt lõi của Phật giáo Nguyên thủy cũng tu quán pháp vô ngã.

Tôi có người bạn Nam tông xuất gia đã 40 năm vẫn trụ trong pháp vô ngã của Tứ niệm xứ. Vị này nói mình sanh không gặp Phật. Trước khi Phật Niết-bàn, A Nan thưa Phật rằng chúng con phải nương pháp nào để tu. Phật dạy phải tu Tứ niệm xứ, chứng Niết-bàn. Cho nên ngày nay, vị này vẫn phải nương pháp này tu.

Theo tôi, Phật dùng pháp quán này để khai thông cho năm anh em Kiều Trần Như, nhưng mình lại cố chấp, dùng pháp này để "bế” nghĩa là bị dính cứng vô pháp này tu mấy chục năm mà không đạt kết quả gì, trong khi pháp Phật là phương tiện để khai mở bế tắc, nhưng mình lại chấp vô đó. Các ông Kiều Trần Như vì chấp pháp tu khổ hạnh, nên Phậ